Bài đăng Phổ biến

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

Chính Nghĩa VNCH

                           Chính Nghĩa VNCH
                            ( SaGiang Úc Châu )

Chế Độ VNCH và XHCN miền Bắc. Đâu là Chính Nghĩa?

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến 2 miền Nam , Bắc Việt Nam kết thúc với sự toàn thắng của Bộ Đội Cộng Sản
Bắc Việt. Từ ngày đó đến nay đã 36 năm qua, một chuỗi  thời gian đũ dài cho những em bé có sinh nhật đúng vào cái ngày Lịch sử đó, trưởng thành.
Thế nhưng; dù đất nước được coi là Thống Nhất Độc Lập Toàn Trị suốt 39 năm qua, mà lớp trẻ sống trong nước vẫn không được học một chương trình lịch sử trung thực. Nhà Nước CSVN không chú trọng vào Lịch Sử Dân Tộc, hay nói đúng hơn CSVN đã vo tròn, bóp méo Lịch Sử Dân Tộc theo lối tuyên truyền nhồi sọ cho nhân dân trong nước. Người dân chỉ học những gì mà Đảng và Nhà Nước muốn. Do đó người dân trong nước hiện nay, qua những nhồi nhét, tuyên truyền, o-ép bằng 700 tờ báo Quốc Doanh Lề Phải và cả một hệ thống Truyền Thông độc quyền của Nhà Nước, đa số đồng bào miền Bắc và những thanh thiếu niên trẻ miền Nam, những người chưa từng sống trong chế độ Tự Do của 2 thời Đệ Nhất và Đệ Nhị VNCH trước năm 1975, đã hoàn toàn có một khái niệm thật sai lạc về tính chất Nhân Bản, Nhân Ái và Nhân Đạo của chế độ do VNCH lảnh đạo. Vì Nhà Nước CSVN trong suốt 39 năm qua đã cố tình tận dụng mọi khả năng bưng bít , để che dấu Sự Thật, đồng thời chỉ định toàn thể những  những tên Bồi Bút có thẻ Đảng phải viết những bài vở, bẻ cong Sự Thật, bịa đặt, bôi bẩn và nói xấu những điều Tốt Đẹp mà Chính Quyền VNCH đã thực hiện cho miền Nam Việt Nam trong suốt 21 năm ( 1954-1975 ).
Để thấy rõ sự Tốt Đẹp của VNCH, người viết xin đưa ra từng sự việc mà chính phủ VNCH đã thực hiện trong Xã Hội miền Nam và so sánh những việc do Đảng CSVN đã hành xữ với nhân dân miền Bắc. Từ những so sánh đó, chúng ta sẽ tự nhìn ra Chính Nghĩa ở đâu.
Trước tiên xin đi ngược lại bối cảnh sau ngày 20/7/1954 Hiệp Định Genéve chia đôi đất nước, được ký kết giửa Việt Minh và Pháp ( không có người Việt Quốc Gia ).
Vào thời điểm nầy tâm trạng của người dân miền Bắc rất hoang mang. Chỉ những ai hiểu rõ về chủ trương của CS  đều rất lo sợ, nên họ đã thu dọn gia đình lên tàu di dư vào Nam. Nhưng CS đã dùng đũ mọi cách từ dụ dỗ,lừa gạt đến khủng bố, giam cầm, không cho đồng bào miền Bắc di cư vào Nam theo thỏa hiệp đã ký trong Hiệp Định Genève có ghi rõ. Mọi người dân toàn quyền được chọn lựa miền nào mình muốn để sinh sống. Dù vậy nhưng vẫn có khoảng 1 triệu đồng bào từ miền Bắc vào được miền Nam.

1/ Sự Nhân Ái của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa đối với Đồng  Bào Di Cư từ miền Bắc.

Sau khi tiếp nhận một triệu đồng bào từ Bắc di cư vào Nam
Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã phân phối một phần lớn Đồng Bào Di Cư vào những vùng đồng bằng để mở rộng đất canh tác, gia tăng việc sản xuất nông sản cho quốc gia. Bác sĩ thú ý Phạm văn Huyến được chỉ định thành lập Phủ Tổng Ủy Dinh Điền để trông coi việc Định Cư và giúp đở cho Đồng Bào miền Bắc có một cuộc sống ổn định. Mỗi gia đình được cấp một số diện tích đất để canh tác, chính phủ còn cung cấp vật liệu để dựng nhà ở và bảo trợ lương thực cho họ sinh sống trong một khoảng thời gian, đến khi họ đũ khả năng tự túc để có cuộc sống ổn định.

2/ Chính Sánh Người Cày Có Ruộng của Đệ Nhị Cộng Hòa

Và đến thời Đệ Nhị Cộng Hoà một lần nữa để giúp đở cho nông dân miền Nam, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành chính sách Người Cày Có Ruộng bằng cách, hạng chế số lượng diện tích đất của những đại điền chủ có nhiều đất mà không trực canh trên 15 mẫu. Chính phủ mua lại bằng cách trả Công Khố Phiếu có phân lời 10% trong vòng 8 năm cho chủ đất. Đem số đất mua lại, cấp cho những tá điền ( 3 ha trên (một gia đình) ở Nam Phần và 1ha ( trên 1 gđ ) ở Trung phần).
Đây là một chính sách rất Nhân Ái của chính phủ VNCH mà đến nay mọi người vẫn không quên, nhưng Nhà Nước CSVN không bao giờ dám để cho người dân trong nước biết.
 Trái lại cùng khoảng thời gian nầy tại miền Bắc XHCN do Đảng CSVN cai trị, đứng đầu là ông Hồ Chí Minh lãnh đạo, đã theo chỉ thị của Trung Cộng thời Mao Trạch Đông, phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất. Lấy danh nghiã là lấy ruộng của người giàu chia cho dân nghèo. Nhưng thực sự.
Đây là một chính sách độc ác, cướp đoạt tài sản của người giàu một cách bất công để chia cho dân nghèo. Nhưng chỉ vài năm sau thì Nhà Nước CS Bắc Việt bắt mọi người dân phải gom đất lại, giao cho Nhà Nước quản lý để vào Hợp Tác Xả.
Cải Cách Ruộng Đất miền Bắc là một chính sách lừa bịp nhân dân để cướp đoạt tài sản và đất đai của nông dân, gây biết bao nhiêu là đau thương đổ nát, tạo ra nhiều oan trái kinh hoàng cho người dân miền Bắc.Mà ảnh hưởng vẫn còn kéo đến ngày nay chưa tẩy sạch. Cái thảm cảnh Cải Cách Rộng Đất nói ra ai cũng biết không cần tốn giấy mực để kể thêm nữa cho mất thì giờ. Chưa hết; Sau khi chiến thắng miền Nam ngày 30/4/1975 CS Bắc Việt đã phát động kế hoạch Trả Thù bằng chính sách Đánh Tư Sản Mại Bản, chiếm đoạt tài sản, nhà cửa của nhân dân miền Nam rồi trục xuất họ ra khỏi thành phố mà họ đang sống, tập trung di chuyển họ ra Vùng Kinh Tế Mới, bỏ họ bơ vơ nơi vùng rừng núi hoang dã, bắt họ phải tự túc trong khi tài sản của họ đã bị Nhà Nước cướp đoạt ! Việc Cướp Đất của người dân trong chế độ CS vẫn còn kéo dài đến ngày hôm nay không chấm dứt, vì đó là chủ trương của Nhà Nước để làm giàu cho Đảng và cho những  cán bộ có chức có quyền. Do đó mà Hiện Tượng Dân Oan vẫn còn là một thực trạng  không thể nào chấm dứt được.
Từ đó nhìn lại, ta mới thấy ra được cái Nhân Ái của VNCH qua 2 kế hoạch Phát Triển Dinh Điền và Người Cày Có Ruộng của thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Sự Thật đó bị CSVN bóp méo, vo tròn qua hệ thống tuyên truyền của nhà nước . Cả 2 lần CS cướp đoạt tài sản của người dân; lần đầu ở miền Bắc là “ Cải Cách Ruộng Đất ” và lần thứ 2 ở miền Nam bằng cách “Đánh Tư Sản Mại Bản “.
Trong khi chính quyền miền Nam đem lại ấm no cho người dân thì nhà nước CS bắc Việt dùng mọi cách để cưởng đoạt tài sản của người dân.
3/ So Sánh nến Kinh Tế của Miền Nam và miền Bắc trước 1975.

Trong cuộc chiến giửa 2 miền Nam Bắc, Hai bên đều nhận sự tiếp trợ của 2 thế lực ngoại bang , Liên Xô và Trung Cộng cho miền Bắc . Mỹ và các nước Đồng Minh cho miền Nam.  
 Thế nhưng Trong suốt những năm đang chiến đấu , miền Nam vẫn tao được một nền Kinh Tế phát triển tương đối vững mạnh đứng hạng cao trong vùng Đông Nam Á. Nên thủ đô SaiGon được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông. Các cơ sở kỹ nghệ hạng trung được xây dựng để giúp cho miền Nam được xem như một quốc gia đang bắt đầu phát triển
Cùng thời gian đó các con Rồng Á Châu ngày nay như Nam Hàn, Thái Lan, Mả Lai, Tân Gia Ba, nền kinh tế vẫn còn chưa ổn định. Tại miền Nam những nhà máy dệt vải như Vinatexco, Nhà máy dệt mền như Sakymen, nhà máy sản xuất các sản phẩm làm bằng nhôm Vinalu , Hảng Xi Măng Hà Tiên, Nhà  máy ráp thùng xe hơi La Dalat từ hảng Citroen của Pháp…Một nền kinh tế phát triển đang thành hình tại miền Nam do chế độ VNCH xây dựng từng bước tiến lên để giúp đất nước phồn thịnh.
Cùng thời gian đó Kinh tế miền bắc hoàn toàn ở trong tình trạng lạc hậu, từng cái con ốc, cây đinh cũng lệ thuộc vào Trung Cộng và các nước CS anh em. Nông nghiệp thì vào Hợp Tác Xã , đất đai, dụng cụ đều do nhà nước quản lý. Người dân bị kiểm soát từng phần lương thực hàng ngày.
Thế mà từ ngày 30/4/1975 sau khi  chiếm trọn miền Nam. Thay vì tiếp tục điều hành toàn bộ cơ chế kỹ nghệ đang có tại miền Nam để phát triển đất nước. Những người  lãnh đạo Đảng CSVN vì có cái đầu quá nhỏ! Họ đã ra lệnh phá bỏ những cơ sở Kinh Tế đang phát triển của miền Nam. Tiêu diệt, trù dập những nhà tư bản kinh doanh miền Nam
Qua những hình thức đưa vào trại Cải Tạo, Đánh tư Sản Mại Bản. Làm cho cả một nền kinh tế phồn thịnh của miền Nam bị sụp đổ một cách đáng tiếc.
Nhìn vào sự kiện nầy để nhận xét về Chế Độ Việt Nam Cộng Hòa.     

4/ Sự khác biệt về  Xã Hội ;

Xã hội miền Bắc trong suốt thời gian chiến tranh, bộ máy cầm quyền miền Bắc theo đuổi mục tiêu xâm lược miền Nam nên bắt người dân miền Bắc thắt lưng buộc bụng, sống kham khổ, nên Xã Hội nghèo đói, dành chi phí vào viêc phục vụ cho chiến tranh. Khắp nơi đều đói khổ. Người
Giàu có tiền cũng không dám mua sắm, vì sợ bị Nhà Nước
chụp mũ là thành phần TiểuTư Sản là Phản Động.
Trong khi đó Xã Hội miền Nam nhờ kinh tế phát triển, nên cuộc sống của người dân tương đối ấm no, êm đềm hơn XH miền Bắc. Chúng ta hãy hình dung từ một gia đình lao động coi như thấp nhất tại miền Nam như gia đình của một bác Xích Lô. Chỉ một mình người chồng đáp xích lô một ngày ( tuy có vất vả ) nhưng bác ta vẫn nuôi cả một gia đình , bà vợ và 3 đứa con sống một cách thoải mái không đói khổ, thiếu thốn như gia đình một người dân lao động miền Bắc. Trong khi người dân miền Bắc đang ao ước được : “ Ăn no mặc ấm “  thì người lao động miền Nam đã lên đến thời kỳ ‘Ăn ngon mặc đẹp “.

5/ Sự Khác Biệt về Giáo Dục
Từ một nền kinh tế lạc hậu, một xã hội thiếu thốn nên nền Giáo Dục của miền Bắc thời đó không thể so sanh được với miền Nam. Vì thế chúng phải dùng nền GD hiện tại của chế độ đang do Nhà nước Cộng Hoà XHCN đang cai trị đất  nước  ( 1975- 2011 )   để so sánh với chế độ VNCH .
Như chúng ta đã thấy hiện nay Trong nước đang áp dụng một chế độ Giáo Dục nhồi sọ , với chủ trương tạo ra những con người XHCN( Nhưng chính các ông lảnh đạo CSVN  cũng không định nghiã và định hình được cái XHCN là cái gì? ), Hậu quả của nền GD nầy là tạo nên những Cán Bộ có bằng cấp giả,( thứ trưởng Bộ Y Tế Cao Quang Minh và nhiều quan chức nhà nước khác mua bằng giả ! tin nầy do báo lề phải đưa ra ), nhưng lớp quan lại đó lại  giàu có và trở thành tập đoàn tham nhủng mạnh nhất đang cai trị đất nước. Nền GD của VN hiện tại có cả trăm ngàn sự việc không thể chấp nhận được.
Chi phí cho con em đi học là cả một gánh thật nặng nề cho cha mẹ. Chưa có một đất nước nào mà áp dụng luật thi vào lớp Mẫu Giáo, và các em lớp Mẫu Giáo cần phải học thêm mới đũ tiêu chuẩn lên lớp ! Thế nhưng một Sinh Viên khi tốt nghiệp xong, nếu không có tiền đút lót thì không tìm được việc làm.
Trong khi đó mỗi công dân của thời chế độ VNCH đều bình đẵng vào học trường Công do Nhà Nước lập ra mà không cần phải trả một phí tổn nào cả,. Từ cấp mẫu giáo cho đến khi tốt nghiệp Đại Học. Và trong suốt thời gian do chế độ VNCH cai trị ,rất ít có hiện tượng mua bằng giả.  
Từ một nền GD Xã Hội Chủ Nghĩa  băng hoại, không phục vu cho dân tộc như thế thử hỏi làm sao  đưa đất nước tiến bộ được . Người có học không có việc làm, còn người có chức quyền  thì không có trình độ học vấn, nên phải mua bằng giả. Dỉ nhiên là ngày nay những bằng cấp do Nhà nước XHCN VN cấp không được một quốc gia nào trên thế giới chấp nhận . Ngược lại những bằng cấp Kỹ Sư , Bác Sĩ, Tiến Sĩ được cấp thời VNCH ra thế giới được nhiều Quốc Gia công nhận.

6/ Sự Khác Biệt Về Y Tế
Đến ngày hôm nay bất cứ người dân Việt Nam nào đến bệnh viện do Nhà Nước XHCN dựng lên, để xin được chữa trị
 đều phải có tiền, nếu không có tìền thì không được quyền vào nằm viện, tốn phí trong việc nằm viện không thể ước định trước được, ngoài việc trả tiền viện phí, bệnh nhân phải chi cho, từ bác sĩ y tá, đến lao công quét dọn , đối với nhân dân lao động một ngày họ làm lương không đũ ăn, khi đau bịnh lấy tiền đâu để trã đũ loại chi phí như thế? Một đất nước hoàn toàn bình yên sau 36 năm và được nhiều trợ giúp của Quốc Tế mà có chế độ y tế nghiệt ngã khổ dân đến như thế thì nến đánh giá cái chính phủ đó ra sao?
So với  chế độ VNCH thì  ai cũng thấy, vào Bệnh Viện Công người dân được bình đẵng hưởng một chế độ phục vụ  ý tế hoàn toàn miển phí. Từ miến bông gòn đến cuộc giải phẩu tim, phổi … người dân khỏi phải trả 1 đồng phí tổn, kể cả việc ẫm thực miển phí do bệnh viện phục vụ.  

7/ Sự Khác Biệt Về Văn Hoá Nghệ Thuật

Trong suốt thời gian chiến tranh, Nhà Nước CS Bắc Việt sản sinh ra một nền Văn Hóa Lai Căng, được hấp thụ từ các nước XHCN mà ông Hồ chịu ảnh hưởng, đa số từ Tàu và Liên Xô. Nên hoàn toàn đi ngược với truyền thống Dân Tộc Việt Nam do cha ông ta truyền lại. Điều đó được chứng minh qua nền âm nhạc của miền Bắc trong thời chiến tranh không có bao nhiêu tác phẩm văn học hay âm nhạc có nội dung mang đặc tính “ Tình tự dân tộc “, vì mục tiêu của các văn hóa phẩm cũa CSVN là phục vụ cho Chiến Tranh và cho Đảng. hoàn toàn không có tiêu chuẩn phục vụ cho nhân dân, nên luôn mang nội dung sắt máu, bạo lực, ca ngợi Đảng Cộng Sản. Còn âm điệu, giai điệu thì hoàn toàn vay mượn từ Trung Quốc vĩ đại, do đó làm cho người Việt Nam không thấy được quê hương, dân tộc mình ở đâu trong loại văn nghệ ngoại lai đó. Vì thế mà hỏi sao toàn dân trong nước cho đến ngày hôm nay vẫn luôn yêu thích những bài nhạc đựợc sáng tác từ thời Chiền Tranh do các nhạc sĩ của VNCH làm ra. Thật ra không phải miền Bắc không có nhạc sĩ tài, nhưng có tài mà phải sáng tác theo lệnh của Nhà Nước mới được chấp nhận. Nếu sáng tác theo cá nhân mình thì bị coi là Phản Động bi trừng phạt, thì làm sao có những sản phẩm nghệ thuật hay được. Đây cũng là một thiệt hại cho Đất Nước.
Vừa qua chúng chúng ta đã so sánh những chính sách của Chính Quyền VNCH và Nhà Nước XHCN Băc Việt, để thấy một bên nhầm phục vụ cho Nhân Dân, Đất Nước và một bên chỉ phục vụ cho Đảng CS đem đến điều tai hại, khổ đau cho nhân dân, đem tai hoạ cho đất nước qua 7 điểm chính yếu kể trên.
Bây giờ chúng ta so sánh về Chính Nghiã của Quân Đội VNCH miền Nam và Bộ Đội CS Bắc Việt trong cuộc chiến vừa qua.
Không cần dài dòng, xin đi thẳng vào các sự việc cho gọn nhẹ,
1/  Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm.
Mục tiêu chiến đấu của người lính VNCH là phục vụ cho 3 Tín Niệm trên.
- Quân Lực VNCH quyết tâm phục vụ cho Tổ Quốc bằng hàng động Đứng Lên Đáp Lời Sông Núi,Không chấp nhận chủ thuyến CS ngoại Lai ngự trị trên Quê Hương Dân Tộc.
Nhưng Bộ Đội CS Bắc Việt thìvượt Trường Sơn vào Nam
để chiếm miền Nam dùng chủ thuyến CS cai trị đất nước phục vụ cho Cộng Sản Quốc Tế theo chỉ thị của Nga Tàu,
-        Danh Dự của người lính VNCH là được chết để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã Hèn Nhác bán Nước cho Tàu Cộng, và đàn áp Nhân Dân đi biểu tình phản đối Trung Cộng chiếm 2 đảo Hoàng Sa Trường Sa của nước Việt.

-        Sẵn sàng nhận Trách Nhiệm với Tổ Quốc. QL/VNCH  dù bị thua năm 1975, nhưng toàn thễ Cựu QN/QLVNCH vẫn tiếp tục Đấu Tranh đòi lại Tư Do Dân Chủ cho Việt Nam tại những nơi mình đang sống.
    Bằng cớ là lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đang hiện diện trên khấp các quốc gia có Người Việt Không CS đang định cư. Và trái lại lá cờ máu của CSVN bị hoàn toàn cô lập trng khu riêng biệt của các tòa Đại Sứ Việt Cộng.
-        Bộ Đội CS Bắc Việt Vô Trách Nhiệm với người Ngư Dân Việt Nam, để Ngư Dân VN bị CS Trung Quốc giết chóc , đánh đập, cướp bóc tài sản mà không dám lên tiếng phản đối. Để Trung Cộng chiếm lảnh thổ quốc gia mà ngồi im không phản đối  !

2/ Chính phủ VNCH ( TT Nguyễn Văn Thiệu ) ra Chính Sách Chiêu Hồi, kêu gọi lính Bộ Độ Bắc Việt ra đầu hàng về với chính nghĩa Quốc Gia. Đây là một nghĩa cữ kêu gọi tình đoàn kết Dân Tộc Hòa Bình, không Hân Thù , không Chủ Chiến.
3/ Thực thi Chính Sách Chiêu Hồi

 Những Cán Binh VC khi chấp nhận Hồi Chánh, được chính phủ tận tình giúp đở , huấn nghệ để trở về gia đình có phương tiên sinh sống cùng với đồng bào, những thành phần nầy không bị xã hội kỳ thị.
Ngay trên chiến trường.Khi bị bắt, nếu Tù Binh VC chịu xin Chiêu Hồi thì cũng được QLVNCH giao cho cơ quan Chiêu Hồi giải quyết.
Riêng đối với Tù Binh VC nếu thành thật trả lời đầy đũ những câu hỏi của nhân viên điều tra thì được đối xử bằng tình nhân đạo. Họ được băng bó điều trị các vết thương và cho ăn uống đầy đũ, không bị nhục mạ, đánh đập. và cũng không bị lao động khổ sai.
Nhưng ngược lại khi CS Bắc Việt  bắt được quân nhân VNCH làm Tù Binh thì đối xữ rất dả man, đánh đập, hành hạ, nhục mạ và bắt chịu đói , bắt lao động khổ sai…
Sau 30/4/75 hàng trăm ngàn Quân Cán Chính VNCH bị đài vô trại Cải Tạo dưới mục đích trả thù, nhiều người vẫn còn bị giam tới ngày nay vẫn chưa được thả.

4/ Nhân đạo với Gia đình cán binh VC đi tập kết.
Trong thời gian chiến tranh, vợ con các cán binh VC thoát ly vào bưng, hay gia đình cha mẹ, anh em của thành phần nầy không ai bị sự khống chế , áp bức nào từ chính quyền kể cả các chính quyền địa phương miền Nam như quận tinh, xã. Họ vẩn được đối xữ công bằng như người dân bình thường. Nếu địa phương đó có bị Thiên Tai, họ vẫn được chính quyền địa phương cứu trợ như mọi người công dân khác. Mồ mả ông cha của những lảnh đạo Đảng CS Bắc Việt vẩn bình an không ai tàn phá xúc phạm đến , bằng chứng là mả cha của ông Hồ Chí Minh ở Cao Lảnh không từng bị ai phá hoại cho đến ngày CS vào Nam.
Thế nhưng sau 30/4/75 , khi CS vào Nam đã phát động chính sách trả thù rất Hèn Hạ, Nghĩa Trang Quân Đội của VNCH bị hũy hoại. Mồ mả của dân cũng bị đào bới xua đuổi để cướp đất.
Con cái của thành phần chế đô miền Nam bị kỳ thị không cho vào đại học ! Và nhất là những Thương Phế Binh của VNCH bị trù dập, khinh bỉ đến ngày nay sau 39 năm chiến thắng, Nhà cầm quyền CSVN  vẫn còn nhìn người của chế độ VNCH một cách Hận Thù, Kỳ Thị .
Đây là cách hành xữ thiếu Văn Hóa cũa một kẻ chiến thắng.

Năm 1974 Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa quyết tử chiến với Trung Cộng để bảo vệ Hoàng Sa. Nhưng nay CSVN cuối đầu trước quân Tàu xâm lược. Và đến ngày nay thi Ải Nam Quan, Thác Bảng Giốc, Hoàng Sa Trường Sa , Rừng Đầu Nguồn , Tây Nguyên đều về tay Trung Cộng . Như vậy qua những hàng động bán nước hại dân của CSVN, khi nhìn lại nhưng gì VNCH, ta sẽ thấy đó là một Chế Độ có Chính Nghĩa.
Lời kết: Người viết bài nầy đương nhiên là không chấp nhận chế độ Cộng Sản và cũng không chủ trương đòi tái lập lại Chế độ VNCH. Chỉ mong rằng sau khi giật sập chế độ Cộng Sản bạo tàn rồi, nhân dân Việt Nam sẽ thành lập một thể chế Dân Chủ Tự Do để có một Chính Quyền do chính người dân bầu lên nhầm phục vụ cho Tổ Quốc và Dân Tộc chứ phục vụ cho một Cá Nhân hay một Tổ Chức , Đảng Phái nào cả.

Sagiang (Úc Châu )        

                                          





  



  

    


                                   Chính Nghĩa VNCH
                            ( SaGiang Úc Châu )

Chế Độ VNCH và XHCN miền Bắc. Đâu là Chính Nghĩa?

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến 2 miền Nam , Bắc Việt Nam kết thúc với sự toàn thắng của Bộ Đội Cộng Sản
Bắc Việt. Từ ngày đó đến nay đã 36 năm qua, một chuỗi  thời gian đũ dài cho những em bé có sinh nhật đúng vào cái ngày Lịch sử đó, trưởng thành.
Thế nhưng; dù đất nước được coi là Thống Nhất Độc Lập Toàn Trị suốt 39 năm qua, mà lớp trẻ sống trong nước vẫn không được học một chương trình lịch sử trung thực. Nhà Nước CSVN không chú trọng vào Lịch Sử Dân Tộc, hay nói đúng hơn CSVN đã vo tròn, bóp méo Lịch Sử Dân Tộc theo lối tuyên truyền nhồi sọ cho nhân dân trong nước. Người dân chỉ học những gì mà Đảng và Nhà Nước muốn. Do đó người dân trong nước hiện nay, qua những nhồi nhét, tuyên truyền, o-ép bằng 700 tờ báo Quốc Doanh Lề Phải và cả một hệ thống Truyền Thông độc quyền của Nhà Nước, đa số đồng bào miền Bắc và những thanh thiếu niên trẻ miền Nam, những người chưa từng sống trong chế độ Tự Do của 2 thời Đệ Nhất và Đệ Nhị VNCH trước năm 1975, đã hoàn toàn có một khái niệm thật sai lạc về tính chất Nhân Bản, Nhân Ái và Nhân Đạo của chế độ do VNCH lảnh đạo. Vì Nhà Nước CSVN trong suốt 39 năm qua đã cố tình tận dụng mọi khả năng bưng bít , để che dấu Sự Thật, đồng thời chỉ định toàn thể những  những tên Bồi Bút có thẻ Đảng phải viết những bài vở, bẻ cong Sự Thật, bịa đặt, bôi bẩn và nói xấu những điều Tốt Đẹp mà Chính Quyền VNCH đã thực hiện cho miền Nam Việt Nam trong suốt 21 năm ( 1954-1975 ).
Để thấy rõ sự Tốt Đẹp của VNCH, người viết xin đưa ra từng sự việc mà chính phủ VNCH đã thực hiện trong Xã Hội miền Nam và so sánh những việc do Đảng CSVN đã hành xữ với nhân dân miền Bắc. Từ những so sánh đó, chúng ta sẽ tự nhìn ra Chính Nghĩa ở đâu.
Trước tiên xin đi ngược lại bối cảnh sau ngày 20/7/1954 Hiệp Định Genéve chia đôi đất nước, được ký kết giửa Việt Minh và Pháp ( không có người Việt Quốc Gia ).
Vào thời điểm nầy tâm trạng của người dân miền Bắc rất hoang mang. Chỉ những ai hiểu rõ về chủ trương của CS  đều rất lo sợ, nên họ đã thu dọn gia đình lên tàu di dư vào Nam. Nhưng CS đã dùng đũ mọi cách từ dụ dỗ,lừa gạt đến khủng bố, giam cầm, không cho đồng bào miền Bắc di cư vào Nam theo thỏa hiệp đã ký trong Hiệp Định Genève có ghi rõ. Mọi người dân toàn quyền được chọn lựa miền nào mình muốn để sinh sống. Dù vậy nhưng vẫn có khoảng 1 triệu đồng bào từ miền Bắc vào được miền Nam.

1/ Sự Nhân Ái của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa đối với Đồng  Bào Di Cư từ miền Bắc.

Sau khi tiếp nhận một triệu đồng bào từ Bắc di cư vào Nam
Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã phân phối một phần lớn Đồng Bào Di Cư vào những vùng đồng bằng để mở rộng đất canh tác, gia tăng việc sản xuất nông sản cho quốc gia. Bác sĩ thú ý Phạm văn Huyến được chỉ định thành lập Phủ Tổng Ủy Dinh Điền để trông coi việc Định Cư và giúp đở cho Đồng Bào miền Bắc có một cuộc sống ổn định. Mỗi gia đình được cấp một số diện tích đất để canh tác, chính phủ còn cung cấp vật liệu để dựng nhà ở và bảo trợ lương thực cho họ sinh sống trong một khoảng thời gian, đến khi họ đũ khả năng tự túc để có cuộc sống ổn định.

2/ Chính Sánh Người Cày Có Ruộng của Đệ Nhị Cộng Hòa

Và đến thời Đệ Nhị Cộng Hoà một lần nữa để giúp đở cho nông dân miền Nam, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành chính sách Người Cày Có Ruộng bằng cách, hạng chế số lượng diện tích đất của những đại điền chủ có nhiều đất mà không trực canh trên 15 mẫu. Chính phủ mua lại bằng cách trả Công Khố Phiếu có phân lời 10% trong vòng 8 năm cho chủ đất. Đem số đất mua lại, cấp cho những tá điền ( 3 ha trên (một gia đình) ở Nam Phần và 1ha ( trên 1 gđ ) ở Trung phần).
Đây là một chính sách rất Nhân Ái của chính phủ VNCH mà đến nay mọi người vẫn không quên, nhưng Nhà Nước CSVN không bao giờ dám để cho người dân trong nước biết.
 Trái lại cùng khoảng thời gian nầy tại miền Bắc XHCN do Đảng CSVN cai trị, đứng đầu là ông Hồ Chí Minh lãnh đạo, đã theo chỉ thị của Trung Cộng thời Mao Trạch Đông, phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất. Lấy danh nghiã là lấy ruộng của người giàu chia cho dân nghèo. Nhưng thực sự.
Đây là một chính sách độc ác, cướp đoạt tài sản của người giàu một cách bất công để chia cho dân nghèo. Nhưng chỉ vài năm sau thì Nhà Nước CS Bắc Việt bắt mọi người dân phải gom đất lại, giao cho Nhà Nước quản lý để vào Hợp Tác Xả.
Cải Cách Ruộng Đất miền Bắc là một chính sách lừa bịp nhân dân để cướp đoạt tài sản và đất đai của nông dân, gây biết bao nhiêu là đau thương đổ nát, tạo ra nhiều oan trái kinh hoàng cho người dân miền Bắc.Mà ảnh hưởng vẫn còn kéo đến ngày nay chưa tẩy sạch. Cái thảm cảnh Cải Cách Rộng Đất nói ra ai cũng biết không cần tốn giấy mực để kể thêm nữa cho mất thì giờ. Chưa hết; Sau khi chiến thắng miền Nam ngày 30/4/1975 CS Bắc Việt đã phát động kế hoạch Trả Thù bằng chính sách Đánh Tư Sản Mại Bản, chiếm đoạt tài sản, nhà cửa của nhân dân miền Nam rồi trục xuất họ ra khỏi thành phố mà họ đang sống, tập trung di chuyển họ ra Vùng Kinh Tế Mới, bỏ họ bơ vơ nơi vùng rừng núi hoang dã, bắt họ phải tự túc trong khi tài sản của họ đã bị Nhà Nước cướp đoạt ! Việc Cướp Đất của người dân trong chế độ CS vẫn còn kéo dài đến ngày hôm nay không chấm dứt, vì đó là chủ trương của Nhà Nước để làm giàu cho Đảng và cho những  cán bộ có chức có quyền. Do đó mà Hiện Tượng Dân Oan vẫn còn là một thực trạng  không thể nào chấm dứt được.
Từ đó nhìn lại, ta mới thấy ra được cái Nhân Ái của VNCH qua 2 kế hoạch Phát Triển Dinh Điền và Người Cày Có Ruộng của thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Sự Thật đó bị CSVN bóp méo, vo tròn qua hệ thống tuyên truyền của nhà nước . Cả 2 lần CS cướp đoạt tài sản của người dân; lần đầu ở miền Bắc là “ Cải Cách Ruộng Đất ” và lần thứ 2 ở miền Nam bằng cách “Đánh Tư Sản Mại Bản “.
Trong khi chính quyền miền Nam đem lại ấm no cho người dân thì nhà nước CS bắc Việt dùng mọi cách để cưởng đoạt tài sản của người dân.
3/ So Sánh nến Kinh Tế của Miền Nam và miền Bắc trước 1975.

Trong cuộc chiến giửa 2 miền Nam Bắc, Hai bên đều nhận sự tiếp trợ của 2 thế lực ngoại bang , Liên Xô và Trung Cộng cho miền Bắc . Mỹ và các nước Đồng Minh cho miền Nam.  
 Thế nhưng Trong suốt những năm đang chiến đấu , miền Nam vẫn tao được một nền Kinh Tế phát triển tương đối vững mạnh đứng hạng cao trong vùng Đông Nam Á. Nên thủ đô SaiGon được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông. Các cơ sở kỹ nghệ hạng trung được xây dựng để giúp cho miền Nam được xem như một quốc gia đang bắt đầu phát triển
Cùng thời gian đó các con Rồng Á Châu ngày nay như Nam Hàn, Thái Lan, Mả Lai, Tân Gia Ba, nền kinh tế vẫn còn chưa ổn định. Tại miền Nam những nhà máy dệt vải như Vinatexco, Nhà máy dệt mền như Sakymen, nhà máy sản xuất các sản phẩm làm bằng nhôm Vinalu , Hảng Xi Măng Hà Tiên, Nhà  máy ráp thùng xe hơi La Dalat từ hảng Citroen của Pháp…Một nền kinh tế phát triển đang thành hình tại miền Nam do chế độ VNCH xây dựng từng bước tiến lên để giúp đất nước phồn thịnh.
Cùng thời gian đó Kinh tế miền bắc hoàn toàn ở trong tình trạng lạc hậu, từng cái con ốc, cây đinh cũng lệ thuộc vào Trung Cộng và các nước CS anh em. Nông nghiệp thì vào Hợp Tác Xã , đất đai, dụng cụ đều do nhà nước quản lý. Người dân bị kiểm soát từng phần lương thực hàng ngày.
Thế mà từ ngày 30/4/1975 sau khi  chiếm trọn miền Nam. Thay vì tiếp tục điều hành toàn bộ cơ chế kỹ nghệ đang có tại miền Nam để phát triển đất nước. Những người  lãnh đạo Đảng CSVN vì có cái đầu quá nhỏ! Họ đã ra lệnh phá bỏ những cơ sở Kinh Tế đang phát triển của miền Nam. Tiêu diệt, trù dập những nhà tư bản kinh doanh miền Nam
Qua những hình thức đưa vào trại Cải Tạo, Đánh tư Sản Mại Bản. Làm cho cả một nền kinh tế phồn thịnh của miền Nam bị sụp đổ một cách đáng tiếc.
Nhìn vào sự kiện nầy để nhận xét về Chế Độ Việt Nam Cộng Hòa.     

4/ Sự khác biệt về  Xã Hội ;

Xã hội miền Bắc trong suốt thời gian chiến tranh, bộ máy cầm quyền miền Bắc theo đuổi mục tiêu xâm lược miền Nam nên bắt người dân miền Bắc thắt lưng buộc bụng, sống kham khổ, nên Xã Hội nghèo đói, dành chi phí vào viêc phục vụ cho chiến tranh. Khắp nơi đều đói khổ. Người
Giàu có tiền cũng không dám mua sắm, vì sợ bị Nhà Nước
chụp mũ là thành phần TiểuTư Sản là Phản Động.
Trong khi đó Xã Hội miền Nam nhờ kinh tế phát triển, nên cuộc sống của người dân tương đối ấm no, êm đềm hơn XH miền Bắc. Chúng ta hãy hình dung từ một gia đình lao động coi như thấp nhất tại miền Nam như gia đình của một bác Xích Lô. Chỉ một mình người chồng đáp xích lô một ngày ( tuy có vất vả ) nhưng bác ta vẫn nuôi cả một gia đình , bà vợ và 3 đứa con sống một cách thoải mái không đói khổ, thiếu thốn như gia đình một người dân lao động miền Bắc. Trong khi người dân miền Bắc đang ao ước được : “ Ăn no mặc ấm “  thì người lao động miền Nam đã lên đến thời kỳ ‘Ăn ngon mặc đẹp “.

5/ Sự Khác Biệt về Giáo Dục
Từ một nền kinh tế lạc hậu, một xã hội thiếu thốn nên nền Giáo Dục của miền Bắc thời đó không thể so sanh được với miền Nam. Vì thế chúng phải dùng nền GD hiện tại của chế độ đang do Nhà nước Cộng Hoà XHCN đang cai trị đất  nước  ( 1975- 2011 )   để so sánh với chế độ VNCH .
Như chúng ta đã thấy hiện nay Trong nước đang áp dụng một chế độ Giáo Dục nhồi sọ , với chủ trương tạo ra những con người XHCN( Nhưng chính các ông lảnh đạo CSVN  cũng không định nghiã và định hình được cái XHCN là cái gì? ), Hậu quả của nền GD nầy là tạo nên những Cán Bộ có bằng cấp giả,( thứ trưởng Bộ Y Tế Cao Quang Minh và nhiều quan chức nhà nước khác mua bằng giả ! tin nầy do báo lề phải đưa ra ), nhưng lớp quan lại đó lại  giàu có và trở thành tập đoàn tham nhủng mạnh nhất đang cai trị đất nước. Nền GD của VN hiện tại có cả trăm ngàn sự việc không thể chấp nhận được.
Chi phí cho con em đi học là cả một gánh thật nặng nề cho cha mẹ. Chưa có một đất nước nào mà áp dụng luật thi vào lớp Mẫu Giáo, và các em lớp Mẫu Giáo cần phải học thêm mới đũ tiêu chuẩn lên lớp ! Thế nhưng một Sinh Viên khi tốt nghiệp xong, nếu không có tiền đút lót thì không tìm được việc làm.
Trong khi đó mỗi công dân của thời chế độ VNCH đều bình đẵng vào học trường Công do Nhà Nước lập ra mà không cần phải trả một phí tổn nào cả,. Từ cấp mẫu giáo cho đến khi tốt nghiệp Đại Học. Và trong suốt thời gian do chế độ VNCH cai trị ,rất ít có hiện tượng mua bằng giả.  
Từ một nền GD Xã Hội Chủ Nghĩa  băng hoại, không phục vu cho dân tộc như thế thử hỏi làm sao  đưa đất nước tiến bộ được . Người có học không có việc làm, còn người có chức quyền  thì không có trình độ học vấn, nên phải mua bằng giả. Dỉ nhiên là ngày nay những bằng cấp do Nhà nước XHCN VN cấp không được một quốc gia nào trên thế giới chấp nhận . Ngược lại những bằng cấp Kỹ Sư , Bác Sĩ, Tiến Sĩ được cấp thời VNCH ra thế giới được nhiều Quốc Gia công nhận.

6/ Sự Khác Biệt Về Y Tế
Đến ngày hôm nay bất cứ người dân Việt Nam nào đến bệnh viện do Nhà Nước XHCN dựng lên, để xin được chữa trị
 đều phải có tiền, nếu không có tìền thì không được quyền vào nằm viện, tốn phí trong việc nằm viện không thể ước định trước được, ngoài việc trả tiền viện phí, bệnh nhân phải chi cho, từ bác sĩ y tá, đến lao công quét dọn , đối với nhân dân lao động một ngày họ làm lương không đũ ăn, khi đau bịnh lấy tiền đâu để trã đũ loại chi phí như thế? Một đất nước hoàn toàn bình yên sau 36 năm và được nhiều trợ giúp của Quốc Tế mà có chế độ y tế nghiệt ngã khổ dân đến như thế thì nến đánh giá cái chính phủ đó ra sao?
So với  chế độ VNCH thì  ai cũng thấy, vào Bệnh Viện Công người dân được bình đẵng hưởng một chế độ phục vụ  ý tế hoàn toàn miển phí. Từ miến bông gòn đến cuộc giải phẩu tim, phổi … người dân khỏi phải trả 1 đồng phí tổn, kể cả việc ẫm thực miển phí do bệnh viện phục vụ.  

7/ Sự Khác Biệt Về Văn Hoá Nghệ Thuật

Trong suốt thời gian chiến tranh, Nhà Nước CS Bắc Việt sản sinh ra một nền Văn Hóa Lai Căng, được hấp thụ từ các nước XHCN mà ông Hồ chịu ảnh hưởng, đa số từ Tàu và Liên Xô. Nên hoàn toàn đi ngược với truyền thống Dân Tộc Việt Nam do cha ông ta truyền lại. Điều đó được chứng minh qua nền âm nhạc của miền Bắc trong thời chiến tranh không có bao nhiêu tác phẩm văn học hay âm nhạc có nội dung mang đặc tính “ Tình tự dân tộc “, vì mục tiêu của các văn hóa phẩm cũa CSVN là phục vụ cho Chiến Tranh và cho Đảng. hoàn toàn không có tiêu chuẩn phục vụ cho nhân dân, nên luôn mang nội dung sắt máu, bạo lực, ca ngợi Đảng Cộng Sản. Còn âm điệu, giai điệu thì hoàn toàn vay mượn từ Trung Quốc vĩ đại, do đó làm cho người Việt Nam không thấy được quê hương, dân tộc mình ở đâu trong loại văn nghệ ngoại lai đó. Vì thế mà hỏi sao toàn dân trong nước cho đến ngày hôm nay vẫn luôn yêu thích những bài nhạc đựợc sáng tác từ thời Chiền Tranh do các nhạc sĩ của VNCH làm ra. Thật ra không phải miền Bắc không có nhạc sĩ tài, nhưng có tài mà phải sáng tác theo lệnh của Nhà Nước mới được chấp nhận. Nếu sáng tác theo cá nhân mình thì bị coi là Phản Động bi trừng phạt, thì làm sao có những sản phẩm nghệ thuật hay được. Đây cũng là một thiệt hại cho Đất Nước.
Vừa qua chúng chúng ta đã so sánh những chính sách của Chính Quyền VNCH và Nhà Nước XHCN Băc Việt, để thấy một bên nhầm phục vụ cho Nhân Dân, Đất Nước và một bên chỉ phục vụ cho Đảng CS đem đến điều tai hại, khổ đau cho nhân dân, đem tai hoạ cho đất nước qua 7 điểm chính yếu kể trên.
Bây giờ chúng ta so sánh về Chính Nghiã của Quân Đội VNCH miền Nam và Bộ Đội CS Bắc Việt trong cuộc chiến vừa qua.
Không cần dài dòng, xin đi thẳng vào các sự việc cho gọn nhẹ,
1/  Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm.
Mục tiêu chiến đấu của người lính VNCH là phục vụ cho 3 Tín Niệm trên.
- Quân Lực VNCH quyết tâm phục vụ cho Tổ Quốc bằng hàng động Đứng Lên Đáp Lời Sông Núi,Không chấp nhận chủ thuyến CS ngoại Lai ngự trị trên Quê Hương Dân Tộc.
Nhưng Bộ Đội CS Bắc Việt thìvượt Trường Sơn vào Nam
để chiếm miền Nam dùng chủ thuyến CS cai trị đất nước phục vụ cho Cộng Sản Quốc Tế theo chỉ thị của Nga Tàu,
-        Danh Dự của người lính VNCH là được chết để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã Hèn Nhác bán Nước cho Tàu Cộng, và đàn áp Nhân Dân đi biểu tình phản đối Trung Cộng chiếm 2 đảo Hoàng Sa Trường Sa của nước Việt.

-        Sẵn sàng nhận Trách Nhiệm với Tổ Quốc. QL/VNCH  dù bị thua năm 1975, nhưng toàn thễ Cựu QN/QLVNCH vẫn tiếp tục Đấu Tranh đòi lại Tư Do Dân Chủ cho Việt Nam tại những nơi mình đang sống.
    Bằng cớ là lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đang hiện diện trên khấp các quốc gia có Người Việt Không CS đang định cư. Và trái lại lá cờ máu của CSVN bị hoàn toàn cô lập trng khu riêng biệt của các tòa Đại Sứ Việt Cộng.
-        Bộ Đội CS Bắc Việt Vô Trách Nhiệm với người Ngư Dân Việt Nam, để Ngư Dân VN bị CS Trung Quốc giết chóc , đánh đập, cướp bóc tài sản mà không dám lên tiếng phản đối. Để Trung Cộng chiếm lảnh thổ quốc gia mà ngồi im không phản đối  !

2/ Chính phủ VNCH ( TT Nguyễn Văn Thiệu ) ra Chính Sách Chiêu Hồi, kêu gọi lính Bộ Độ Bắc Việt ra đầu hàng về với chính nghĩa Quốc Gia. Đây là một nghĩa cữ kêu gọi tình đoàn kết Dân Tộc Hòa Bình, không Hân Thù , không Chủ Chiến.
3/ Thực thi Chính Sách Chiêu Hồi

 Những Cán Binh VC khi chấp nhận Hồi Chánh, được chính phủ tận tình giúp đở , huấn nghệ để trở về gia đình có phương tiên sinh sống cùng với đồng bào, những thành phần nầy không bị xã hội kỳ thị.
Ngay trên chiến trường.Khi bị bắt, nếu Tù Binh VC chịu xin Chiêu Hồi thì cũng được QLVNCH giao cho cơ quan Chiêu Hồi giải quyết.
Riêng đối với Tù Binh VC nếu thành thật trả lời đầy đũ những câu hỏi của nhân viên điều tra thì được đối xử bằng tình nhân đạo. Họ được băng bó điều trị các vết thương và cho ăn uống đầy đũ, không bị nhục mạ, đánh đập. và cũng không bị lao động khổ sai.
Nhưng ngược lại khi CS Bắc Việt  bắt được quân nhân VNCH làm Tù Binh thì đối xữ rất dả man, đánh đập, hành hạ, nhục mạ và bắt chịu đói , bắt lao động khổ sai…
Sau 30/4/75 hàng trăm ngàn Quân Cán Chính VNCH bị đài vô trại Cải Tạo dưới mục đích trả thù, nhiều người vẫn còn bị giam tới ngày nay vẫn chưa được thả.

4/ Nhân đạo với Gia đình cán binh VC đi tập kết.
Trong thời gian chiến tranh, vợ con các cán binh VC thoát ly vào bưng, hay gia đình cha mẹ, anh em của thành phần nầy không ai bị sự khống chế , áp bức nào từ chính quyền kể cả các chính quyền địa phương miền Nam như quận tinh, xã. Họ vẩn được đối xữ công bằng như người dân bình thường. Nếu địa phương đó có bị Thiên Tai, họ vẫn được chính quyền địa phương cứu trợ như mọi người công dân khác. Mồ mả ông cha của những lảnh đạo Đảng CS Bắc Việt vẩn bình an không ai tàn phá xúc phạm đến , bằng chứng là mả cha của ông Hồ Chí Minh ở Cao Lảnh không từng bị ai phá hoại cho đến ngày CS vào Nam.
Thế nhưng sau 30/4/75 , khi CS vào Nam đã phát động chính sách trả thù rất Hèn Hạ, Nghĩa Trang Quân Đội của VNCH bị hũy hoại. Mồ mả của dân cũng bị đào bới xua đuổi để cướp đất.
Con cái của thành phần chế đô miền Nam bị kỳ thị không cho vào đại học ! Và nhất là những Thương Phế Binh của VNCH bị trù dập, khinh bỉ đến ngày nay sau 39 năm chiến thắng, Nhà cầm quyền CSVN  vẫn còn nhìn người của chế độ VNCH một cách Hận Thù, Kỳ Thị .
Đây là cách hành xữ thiếu Văn Hóa cũa một kẻ chiến thắng.

Năm 1974 Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa quyết tử chiến với Trung Cộng để bảo vệ Hoàng Sa. Nhưng nay CSVN cuối đầu trước quân Tàu xâm lược. Và đến ngày nay thi Ải Nam Quan, Thác Bảng Giốc, Hoàng Sa Trường Sa , Rừng Đầu Nguồn , Tây Nguyên đều về tay Trung Cộng . Như vậy qua những hàng động bán nước hại dân của CSVN, khi nhìn lại nhưng gì VNCH, ta sẽ thấy đó là một Chế Độ có Chính Nghĩa.
Lời kết: Người viết bài nầy đương nhiên là không chấp nhận chế độ Cộng Sản và cũng không chủ trương đòi tái lập lại Chế độ VNCH. Chỉ mong rằng sau khi giật sập chế độ Cộng Sản bạo tàn rồi, nhân dân Việt Nam sẽ thành lập một thể chế Dân Chủ Tự Do để có một Chính Quyền do chính người dân bầu lên nhầm phục vụ cho Tổ Quốc và Dân Tộc chứ phục vụ cho một Cá Nhân hay một Tổ Chức , Đảng Phái nào cả.

Sagiang (Úc Châu )        

                                          





  



  

    

        

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

Mượn bài từ TRang Quê Choa .

Quê Choa: Thằng cu Hó

Nguyễn Quang Lập 
Hồi mới ra Hà Nội mình hay bị  thằng cu Hó mắng cho là đồ nhà quê. Nó ra Hà Nội trước mình có một năm mà xem phong thái rất người Hà thành. Nó  mặc nhiên coi nó là người Hà Nội, động cái là mắng mình đồ nhà quê. Bạn bè mắng nhau chơi thôi nhưng nhiều khi mình cũng tức.

Nó là bạn nối khố của mình, tên là Nguyễn Hó, ra Hà Nội đổi là Nguyễn Hồng Đức, nó bảo cái tên Hó tối mò, quê một cục, nghe cái tên chó nó muốn làm việc với tao. Mình hỏi tên Lập được chưa, nó bảo chấp nhận được, nhưng viết bài thì nên lấy tên là Quốc Lập nghe mới oách, mới doạ được bọn Bắc kì.

Nó đến chơi nhà, thấy con mình nói mời bác ăn cơm, nó bảo mày không biết dạy con à? Mình hỏi sao, nó nói phải dạy tụi nó nói mời bác xơi cơm. Mình nói ăn với xơi khác gì nhau. Nó cười, nói mày là nhà văn Thủ đô  rồi con ạ, đừng có bảo thủ. Ăn là quê, xơi là Hà Nội, nghe không con.

Nó nói mày phải khẩn trương hoà tan ngay cái bản sắc nhà quê hủ lậu của mày đi, có thế mới tồn tại được ở Thủ đô.

Đến chơi nhà nó, trúng bữa cơm, nó kéo mình vào mâm. Ba đứa con nó lườm nhau cái, đứa thứ nhất nói một hơi cháu mời bác xơi cơm con mời bố xơi cơm con mời mẹ xơi cơm em mời anh xơi cơm. Đứa thứ nhất dứt lời thở cái phù nhẹ nhõm, tiếp liền đứa thứ hai, rồi đứa thứ ba, đứa nào cũng một tràng như bắn liên thanh, cơ khổ!

Thấy mình đi cái xe cup 70 cà rịch cà tàng, nó bảo mày vứt nó vào sọt rác đi, quê lắm. Mình nói chà, xe chỉ là phương tiện, mình chưa có tiền đi xe tốt thì đi xe này, việc gì đâu?
Nó cười khịt khịt, xoa đầu mình, nói quê lắm con ơi. Xem tao đây này: Ra Hà Nội cái, biết mình không đủ tiền mua nhà ngon, thuê ngay cái nhà xịn, sửa sang nội thất cực kì, mời dân có máu mặt Hà thành đến nhậu một trận sơn hào hải vị, cho chúng nó lác mắt. Ai biết nhà mình thuê hay mua, thấy chưa!

Nó nói phô cái nghèo khổ ra ai thương mà người ta khinh. Xem tao đây này: Tiền không đủ mua nhà thì mua xe xịn, áo quần xịn, dày dép xịn, đói méo mặt nhưng hễ ra đường là phơi phới niềm tin. Khe khe khe...

Mình nói không có thì thôi, rán hành ra mỡ làm gì? Nó xoa đầu mình cười, nói con ơi con răng mà quê rứa con. Hèn chi mày nổi tiếng gấp mười tao mà người ta trọng tao gấp mười mày.

Nó nói mày viết bài hiền lắm, quê. Mình hỏi sao, nó bảo thỉnh thoảng phải đá vào vài tiếng Tây cho nó sang. Mình bảo tiếng Anh của tao chưa quá được trình độ How are you, biết gì mà viết?

Nó ném ra cuốn luận văn tiến sĩ của nó, nói mày xem đây. Xem phần phụ lục ghi sáu trang liền toàn sách tham khảo tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức. Mình trợn mắt há mồm. Nó cười, nói tao biết mịa gì tiếng Tây, ghi thế cho đỡ quê. Tiến sĩ mịa gì không biết tiếng Tây, quê!

Mình nói thế thì chỉ mang tiếng dốt ngoại ngữ chứ sao gọi là quê? Nó nói dốt gì không nói chứ ở đô thành mà dốt ngoại ngữ gọi là quê. Mình nói mày sợ quê hơn sợ dốt à? Nó nói đúng, ở đô thành sợ nhất bị người ta coi là quê mùa. Muốn lên dân thượng lưu, dốt giỏi không quan trọng, quan trọng là tẩy bỏ cho được cái chất quê.

Nó còn thỉnh thoảng in vài chùm thơ nước ngoài, khi thì đề là Nguyễn Hồng Đức dịch từ nguyên bản tiếng Anh, khi thì đề Nguyễn Hồng Đức dịch từ nguyên bản tiếng Pháp. Thất kinh.

Mình nói mày nói tiếng bọ không xong, sao dám dịch tiếng Anh, tiếng Pháp. Nói nói tao bảo tụi học trò nó dịch thô ra, tao làm lại thơ, rứa là thành dịch giả, thấy chưa con. Khe khe khe..

Mình cười nói mày làm mấy chuyện đó là quê đấy con ạ. Nó xoa đầu mình, nói mày ngu lắm, học làm sang sao gọi là quê. Mày mở mắt ra nhìn bố mày gia nhập giới thượng lưu nghe con.

Vài năm sau nó làm viện phó viện XYZ, gặp nó đâu, vẫn quần áo sang trọng nhưng khi thì đi bộ bên vỉa hè, khi thì đi bằng xe đạp, xe đạp đắt tiền nhưng là xe đạp thôi. Mình nói sao mà khiêm tốn thế, nó cười, nói muốn lên lãnh đạo trước hết phải khiêm tốn. Nhưng khiêm tốn sang trọng chứ không phải khiêm tốn rị mọ quê mùa như mày đâu.

Mình cười nói mấy trò diễn đó mới gọi là quê mùa đấy con ơi. Nó xoa đầu mình, nói thằng này quê mùa toàn diện và vững chắc, không cải tạo được.

Tháng trước có hội thảo ở viện nó, mình có tới dự, nó chủ trì hội thảo, cuối buổi đứng lên kết luận sơ bộ. Xem cái điệu chống tay, hất tóc, ngừng ngắn nhấp ngụm nước rất chuyên nghiệp của nó, mình cứ cúi mặt cười thầm, phục thằng này quá.

Nó nói Đông nói Tây rồi nói: “Tôi có đọc tờ Niu oóc ti mét, người ta vừa nói rằng....”.  Một số người bịt miệng cười khịt khịt.

Tan hội nghị mình gặp riêng nó, nói mày quê bỏ mẹ! Nó hỏi sao, mình nói tờ New York Times, mày lại phát âm ra Niu oóc ti mét, phát âm không được thì đọc cái mịa gì. Mặt nó đực ngỗng ỉa.
Mình nghĩ bụng không biết thằng này ngày mai có dám vác mặt đến hội nghị nữa không, hoá ra nó vẫn đến, mặt mày phớt Ăng lê, hết bắt tay người này lại bắt tay người kia, nói nói cười cười như không. Phục nó quá trời.

Cuối buổi nó lại lên phát biểu, lại chống tay, hất tóc, nhấp ngụm nước,  nói nhân nói chuyện ngoại ngữ, tôi nói luôn hôm qua tôi cố tình phát âm New York Times thành Niu oóc ti met, tôi để ý xem thì thấy chỉ có một phần ba hội nghị là bịt miệng cười, còn lại chẳng ai hiểu tôi nói sai hay là đúng. Thế này thì gay lắm, chúng ta cần phải bổ túc ngoại ngữ thế nào chứ toàn tiến sĩ không, ngoại ngữ thế này thì gay lắm.

Tan hội nghị mình bắt tay nó, nói chúc mừng ông đã gỡ được một bàn thua, nó nói thấy chưa, thấy ông thành thị chưa! Mình nói thấy rồi, kiểu này ông dễ về làm hiệu trưởng đại học ngoại ngữ lắm, nó vênh mặt lên, nói chứ sao, viện phó rồi, về chỗ đó không đầy một bước chân, khó gì!

Mình nói giỏi giỏi, ông thành thị giỏi giỏi, nó cười khe khe khe kéo mình đi uống bia, nâng cốc nói chúc sức khoẻ đồng chí ngu lâu, nhà quê vĩnh viễn. Mình chạm cốc nó, nói chúc sức khoẻ  đồng chí giả cầy, mau thăng quan tiến chức.

Nó nói mày nói đúng, không giả cầy làm sao ra ông thành thị, không ra ông thành thị làm sao mà lên quan.

Khe khe khe.
NQL

Trở về trang nhà sau nhiều tháng quên lảng

Sau nhiều tháng bận rộn , Tan An Trung không vào trang Blog nầy để chia sẽ.
Nhưng có một số bạn hữu đến thăm mà không thấy chủ nhân tiếp đón. Xin thành thật nhận lổi.
Từ nay Trung sẽ thườn xuyên trở về với trang Blog. Thân mời qúy thân hữu cùng ghé chia sẽ. Trong tinh thần quan tân đến hiện tình Đất Nước.
Thân Ái
Tân An Trung

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2013

Tháng Tư nhớ ngày Mất Nước.

Rồi tháng Tư cũng lại về,
37 năm buồn tỉ buồn tê.
Bây giờ thì đang ở xứ người, nhìn về đất nước.
Thương cho dân mình bạc phước,
Giận bọn Việt Cộng , Viẹt Gian bán nước.
Rước giặc Tàu về giẩm nát quê hương,

Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

Đừng bảo tôi im vì bạn im. ( Đặt tên giùm Tác Giả )

Bài viết không có tựa
Joyce Anne Nguyen


Có đôi khi suy nghĩ, tôi chợt cảm thấy có lẽ mình nên bỏ tất cả. Bỏ tất cả việc viết lách này. Có rất nhiều lý do để tôi không nên tiếp tục viết.

Tôi 16 tuổi, ở tuổi này như những người đồng trang lứa tôi nên chú tâm học hành và có những mối quan tâm phù hợp với lứa tuổi.

Tôi không bị ép buộc phải lên tiếng, và tôi không đủ tư cách để lên tiếng và kêu gọi người khác phải đứng dậy tranh đấu cho quyền lợi cá nhân và thay thế 1 chế độ khác với những nhà cầm quyền khác, bởi dù gì tôi cũng đang sống ở nước khác, tôi là kẻ hèn nhát đứng từ xa hò hét kêu gọi, khi có chuyện tôi không phải cam chịu gì cả, và tôi nói gì cũng được, gào gì cũng được.

Có đôi khi tôi cảm thấy nhục nhã và ghê tởm với bản thân. Và có lẽ sự im lặng là lựa chọn tốt hơn cho tôi. Có nhiều lúc tôi cảm thấy như vậy. Dù tôi có viết hàng trăm, hàng ngàn bài, cũng không có điều gì xảy ra. Mọi việc đều diễn ra như vậy. Vô số người đã viết, vô số người đã lên tiếng, vô số người đã đấu tranh và cống hiến cho phong trào đấu tranh dân chủ, nhưng cũng không có gì thay đổi. Việc viết lách của tôi nói chung cũng không có lợi gì. Ko tạo nên 1 sự thay đổi. Cũng không thuyết phục hay lôi kéo được ai. Rất nhiều người cũng đã bảo VN không cần những người như tôi, và thay vì chê bai chế độ, không đóng góp, có lẽ tôi nên ngậm họng và sống cho đất nước tôi đang sống.

Có đôi khi tôi cảm thấy mình là 1 kẻ hèn nhát. Dĩ nhiên khi ở VN, tôi không viết, ý tôi là tôi có viết về những bức xúc trong xã hội nhưng không viết về chính trị chẳng phải vì tôi sợ, mà trong nước tôi chưa kịp thấy nhiều để ý thức được người dân trong nước không may mắn như thế nào. Chỉ khi được đến 1 đất nước khác và đi 1 số nơi, tôi mới thấy 1 số điều và so sánh, tôi mới bắt đầu viết về chủ đề này. Nhưng có lẽ tôi nói chung cũng vẫn là 1 kẻ hèn nhát to miệng, kêu gọi người dân trong nước đứng lên phản kháng, trong khi mình đã an toàn.

Có lẽ tôi nên im lặng. Và mọi người cùng im lặng.

Chúng ta hãy cùng ngồi yên và chấp nhận hoàn cảnh, với suy nghĩ mọi nước đều có vấn đề, khó khăn riêng, và mỗi chế độ đều có cái tốt cái xấu của nó.

Chúng ta hãy cùng im lặng và lờ đi những vấn nạn của đất nước, với an ủi rằng đất nước dù sao cũng đang tiến bộ.

Chúng ta hãy cùng im lặng và tin tưởng rằng việc im lặng chấp nhận sẽ giúp đất nước bình yên.

Chúng ta hãy dùng từ “nhạy cảm” để né tránh mỗi khi bất kỳ ai đề cập đến vấn đề an ninh lãnh thổ.

Chúng ta hãy tập trung học hành, làm việc và đừng quan tâm đến chính trị.

Chúng ta hãy ngồi yên đó, để TQ kéo sang tiến hành dự án bauxite ở Tây Nguyên, hủy hoại môi trường sống, giết chết sinh vật, gây bệnh tật cho đồng bào ta, và từ từ chiếm phần trung tâm của đất nước ta.

Chúng ta hãy ngồi yên đó, để TQ thuê rừng đầu nguồn và chấp nhận tất cả những hậu quả của nó như sự ảnh hưởng đến sinh thái và lũ lụt, và để dân TQ kéo sang VN sống.

Chúng ta hãy ngồi yên đó, và để đồng bào ta bị đánh cướp hoặc giết chết ngoài biển Đông.

Chúng ta hãy ngồi yên đó, để tấm bản đồ lưỡi bò đi khắp TG, và mọi người dần dần tin rằng biển Đông thuộc về TQ, HS- TS thuộc về TQ.

Chúng ta hãy nhắm mắt lại, và ngưng việc đọc báo đi, để tưởng tượng rằng không có điều gì tồi tệ xảy ra và đất nước vẫn đang phát triển.

Nhưng liệu tôi, và bạn có thể làm được thế ko?

Nếu muốn, tôi có thể quên VN đi. Tôi có thể chỉ nên sống cho Na Uy. Và bất kỳ cái gì khác. Bạn cũng vậy. Nhưng liệu chúng ta có thể làm được như thế ko?

Mọi chuyện có lẽ sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều nếu không có những vấn đề với TQ. Bây giờ ai cũng biết tình hình giữa TQ và VN đã nghiêm trọng như thế nào. Ko, đừng nói với tôi VN là nước nhỏ. Ko, đừng nói với tôi VN xui xẻo nằm quá gần 1 đất nước đầy tham vọng bá quyền như TQ. VN không phải là nước nhỏ duy nhất phải chống chọi với 1 nước lớn. VN không phải là nước duy nhất nằm gần TQ. Tôi biết tôi không thể làm được gì cả. Tôi là 1 cá nhân, và 1 cá nhân chỉ là được những việc nhỏ nhặt trong giới hạn của 1 cá nhân. Nhưng nếu nhiều cá nhân gộp lại?“Don’t wait for leaders; do it alone, person to person.”- Mother Teresa. Nếu VN phải đối mặt với TQ, nếu nhân dân VN phải đối mặt với nguy cơ mất nước, ai sẽ cứu VN ngoài chính người dân VN? Mỹ ư? Ồ không bạn ạ, người Mỹ chỉ làm những gì tốt nhất cho nước Mỹ, đừng quên Mỹ đang mắc nợ TQ, và đừng quên không có lý do cụ thể nào để Mỹ phải giúp đỡ VN. Hay 1 vị Bụt hiện ra hỏi “Vì sao con khóc?” và phẩy cây phất trần biến điều ước trở thành hiện thực? Phật có câu “No one saves us but ourselves. No one can and no one may. We ourselves must walk the path.” “It’s a dirty world out there, but if no one agrees to do the cleaning, the whole country goes down a shit house.”- Vikas Swarup.

Tôi đủ tỉnh táo để hiểu những bài viết của tôi không đem lại 1 sự thay đổi cụ thể nào. Có 1 số người đã hỏi thẳng, tôi nhận được bao nhiêu tiền để viết. Tôi cảm thấy hổ thẹn cho họ. Tôi sẽ không giải thích, tôi chỉ đơn giản trích 1 câu của Isabel Allende “How can one not write about war, poverty and inequality when people who suffer from these afflictions don’t have a voice to speak?” Nếu bạn hoàn toàn cho rằng việc viết lách là vô bổ, đừng quên trong chiến tranh không phải ai cũng tham gia chiến đấu, có những người chiến đấu bằng ngòi bút. Có những người đóng góp theo cách riêng của họ.

Mọi người biết việc viết lách không đem lại ích lợi gì nhiều. Vô số người đã viết. Vô số người đã lên tiếng. Ko có gì được thay đổi. Bản kiến nghị phản đối dự án bauxite được rất nhiều người ký tên cuối cùng cũng bị bỏ mặc. Những người biểu tình phản đối TQ bị bắt. Blogger bị bắt và bỏ tù. Ko có gì được thay đổi. Nhà nước vẫn tiếp tục làm việc của họ. Họ vẫn chặn facebook. Họ vẫn kiểm soát thông tin. Họ vẫn cấm nhắc tên Hoàng Sa Trường Sa trên game online. Họ vẫn treo băng rôn chúc mừng quốc khánh TQ. Họ vẫn xử tù người bất đồng chính kiến. Họ vẫn tiến hành dự án bauxite Tây Nguyên. Họ vẫn tiến hành dự án điện hạt nhân. Họ vẫn cho thuê TQ thuê rừng đầu nguồn. Họ vẫn.. Họ vẫn…


Nhưng thay vì đặt câu hỏi tại sao tôi lại viết dù biết việc lên tiếng không đem lại ích lợi, tại sao bạn không hỏi vì sao đã rất nhiều người lên tiếng nhưng vẫn không có điều gì thay đổi? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ hoàn toàn không quan tâm đến nhân dân? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không cho phép nhân dân biểu tình hoặc chỉ đơn giản là cất tiếng nói? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ gạt ngang không đếm xỉa đến bản kiến nghị phản đối 1 dự án gây tác hại trầm trọng đến môi trường, sự sống, và cả an ninh, lãnh thổ đất nước? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ chặn blog, chặn website? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi dân oan khiếu kiện, họ không bao giờ giải quyết? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không đầu tư công sức vào nền giáo dục, tiếp tục những trò cải cách chạy vòng quanh không cần thiết, bằng cách lấy kiến thức năm này đắp vào năm khác và quay vòng? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không giải quyết vấn đề tham nhũng trầm trọng và giải thích VN không phải là nước tham nhũng nhất TG và quốc gia nào cũng có? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không màng đến vấn đề giao thông, để hàng chục ngàn người chết mỗi năm vì tai nạn giao thông, và phần lớn vì đường sá chật chội, đầy “lô cốt”, kém chất lượng và gây ra nhiều cái chết phi lý? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ xem nhân dân là con cái không được phép cãi lời và “hàng xóm” không cần can thiệp? Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ lên nắm quyền khi nhân dân không biết họ là ai để bầu cho họ? Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ dù làm bất kỳ điều gì, vẫn tiếp tục giữ cái ghế của mình? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ e ngại mọi sự so sánh và kết luận đó là vọng ngoại và phản quốc? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không dám nhìn thẳng vào khuyết điểm và huyễn hoặc nhân dân rằng mọi đất nước đều có vấn đề riêng và đất nước ta đang ngày càng tiến bộ?

Ở đây tôi chỉ muốn nói lên vấn đề ý thức. Tôi không có ý định tung hô nước ngoài như nhiều người sẵn sàng chụp mũ. Tôi chỉ đưa ra 1 vài so sánh. Trong ý thức người dân cũng như người lãnh đạo ở những quốc gia có tự do dân chủ, nhà nước được nhân dân bầu lên, và tồn tại vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Nhân dân đóng thuế nuôi các ông lãnh đạo, và khi các ông làm việc không tốt, các ông phải nghe phê bình, và có thể bị phế truất. Có rất nhiều người vẫn thường lầm lẫn giữa khái niệm yêu nước và yêu nhà nước. Tất cả đơn thuần chỉ là trò chơi đánh tráo khái niệm. 1 kiểu áp đặt thường thấy. Quốc gia dân tộc là cái trường tồn. Nhà nước là cái tồn tại tạm thời. Khi 2 cái đi ngược nhau, tôi không nghĩ tôi nên chọn cái ngắn thay vì cái dài. Có nhiều người sẽ bảo tôi là kẻ vô ơn. Rằng tôi sinh ra và lớn lên dưới chế độ này, tôi ăn cơm trong chế độ này, tôi đi học trong chế độ này, tôi phải mang ơn thay vì phản chủ. 1 lần nữa phải nhấn mạnh, đây chỉ là vấn đề ý thức. Ko biết vì lý do gì, dường như người dân VN có thói quen thường sợ hãi và mang ý thức mình đang mang ơn nhà nước. Trong khi thực tế nhà nước lập ra để lèo lái đất nước, và đại diện cho quyền lợi của nhân dân. Tôi phải biết ơn à? Tôi đã nhìn thấy các ông lãnh đạo như thế nào. 1 tờ báo chính thức trong nước từng viết, phải mất 175 năm để VN đuổi kịp Singapore, với điều kiện Singapore đứng yên- điều này là không thể. GDP cũng tụt hàng trên TG. Tôi phải biết ơn đất nước vì đã độc lập, tự do, hạnh phúc à? Ta độc lập mà ta không dám nhắc đến mối quan hệ VN- TQ? Ta độc lập mà ta không dám biểu tình chống TQ? Hạnh phúc? Hạnh phúc mà sau này vô số người vẫn tìm cách bỏ đi, bằng cách này hay cách khác, hôn nhân, du học, lao động hợp tác, làm giấy tờ giả…? Hạnh phúc mà đa phần những người đã đi đều không muốn về nước sống?

Tôi sẽ bị xem là kẻ hèn nhát. Tôi không dám ở ngay trong nước hô hào. Tôi thừa nhận, có nhiều lúc tôi đã tự cảm thấy mình là 1 kẻ hèn nhát. Tôi đi. Tôi không ở lại. Nhưng cách đây không lâu, ở trường tôi có buổi giới thiệu về 1 số trường ĐH ở Na Uy và ở những nước khác như Anh, Úc, Mỹ, New Zealand… có 1 tấm bảng có dòng chữ lớn: “Do something for your country: LEAVE.” May mắn được đi, tôi có những quyền tôi không thể có trong nước. May mắn được đi, bằng những bài viết, dù có thể là vô bổ, tôi đóng góp 1 phần nào đó. May mắn được đi, tôi có cơ hội mở rộng tầm nhìn, và so sánh sự khác biệt giữa 2 TG (tôi thích nói là 2 TG). Những người e ngại sự so sánh không thể nhìn thẳng vào những khuyết điểm và hạn chế của bản thân để chỉnh sửa và tiến bộ. So sánh là cần thiết. So sánh dẫn đến cạnh tranh. Cạnh tranh giúp phát triển. Thử tưởng tượng, nếu cả 1 khu vực bạn sống chỉ có 1 tiệm giày. Bạn không còn lựa chọn nào khác, dù đẹp dù xấu bạn cũng phải vào đó mua giày. Nhưng nếu có khoảng chục tiệm giày, à không nhất thiết, có 2 tiệm giày thôi cũng được, bạn được quyền lựa chọn vào tiệm A hay tiệm B, và để thu hút khách hàng, mỗi tiệm dĩ nhiên phải cạnh tranh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tương tự với chính trị. Ồ vâng bạn sẽ nghĩ tôi là đứa tâm thần khi so sánh chính quyền với tiệm giày, nhưng tôi chỉ đang phân tích. Nếu có nhiều đảng, các đảng phải cạnh tranh nhau, đưa ra nhiều chính sách vì nhân dân và đất nước, và người dân dĩ nhiên sẽ bỏ phiếu cho cái đảng có nhiều chính sách tối ưu hơn. Nhưng nếu chỉ có 1 đảng duy nhất, và đặc biệt những người lãnh đạo không bao giờ bị bắt lỗi, không bao giờ bị phê bình, không bao giờ bị phế truất, các ông muốn làm bao lâu cũng được, ngồi đó bao lâu cũng được. Ko phải rõ ràng là trong trường hợp đó, cái đảng duy nhất này có thể làm bất kỳ điều gì, kể cả những việc có hại cho đất nước sao?

Trong bài viết “Ai không muốn được tự do?”, tôi đã có đề cập đến sự tự do. Vấn đề chỉ là khái niệm về tự do. Khi con người đã sống quá lâu trong 1 xã hội nơi họ không được phép có tư duy độc lập và phát biểu ý kiến thực sự của mình, họ dần dần quên mất lẽ ra là con người, họ nên có quyền cất tiếng nói. Trong nghệ thuật, nếu có khuôn mẫu định sẵn và 1 dây xích kìm hãm, người nghệ sĩ không thể làm việc với toàn bộ khả năng của mình. Thiếu tự do, con người bị kìm hãm, khả năng bị giới hạn. Cũng như trong đời sống. Albert Camus từng nói “A free press, of course, can be good or bad, but most certainly, without freedom, a press will never be anything but bad.” Nói mỗi nước đều có tự do dân chủ, chỉ là chế độ khác biệt nên sự dân chủ có màu sắc khác nhau chỉ là lối né tránh cái thực tế chẳng có tự do dân chủ. Nói mỗi nước đều có vấn đề, không có chế độ nào hoàn hảo chỉ là 1 lối lấp liếm không dám nhìn thẳng vào những khuyết điểm của mình.

Đúng, không có chế độ nào 100% hoàn hảo. Nhưng cho đến nay, qua thời gian, đến sự tiến bộ hiện nay của loài người, chế độ dân chủ được xem là lựa chọn tốt nhất. Nhưng có lẽ con chim bị nhốt quá lâu trong lồng khi nhìn thấy cửa mở cũng rụt lại không dám bay ra TG rộng lớn bên ngoài. Có lẽ con người sợ hãi sự thay đổi. Thay vì góp sức vào 1 sự thay đổi, thay vì đứng lên bảo vệ cho quyền lợi của chính bản thân mình, họ ngồi yên chấp nhận thực tế và họ tìm cách lơ đi những vấn nạn của đất nước. Erich Fried có câu nói nổi tiếng được viết ngay trên phần còn sót lại của bức tường Berlin tôi đã may mắn có dịp thấy tận mắt: “He who wants the world to remain as it is doesn’t want it to remain at all.”

Nếu muốn, tôi có thể đáp máy bay về nước, có thể để bị bắt và ngồi tù, lúc đó mọi người sẽ biết đến tôi, sẽ cuối cùng công nhận tôi chứng minh được những gì mình đang nói thay vì khoác lác phô trương, sẽ cuối cùng ban cho tôi 1 danh hiệu, hay 1 tấm bằng khen để sau này ra tù tôi treo trong nhà và tự hào giới thiệu mỗi khi khách đến, nhưng liệu điều ấy có giúp ích được gì ko? Ý tôi không phải bảo việc ngồi tù là vô bổ. Tôi rất nể trọng và kính phục những người đã dám lên tiếng và chấp nhận việc ngồi tù là 1 cái giá của việc tranh đấu của mình. Tôi thực sự rất nể trọng họ. Và cảm thấy những gì mình làm chẳng là chút gì so với những gì họ đã làm. Và nhiều lúc cảm thấy bản thân là 1 kẻ hèn nhát đáng ghê tởm.

Nhưng..

Đừng bảo tôi im vì tôi sống ở Na Uy.
Đừng bảo tôi im vì tôi 16 tuổi.
Đừng bảo tôi im và bảo tôi chưa đủ trải nghiệm.
Đừng bảo tôi im và bảo tôi thiếu hiểu biết.
Đừng bảo tôi im và kết tội tôi chỉ copy và paste.
Đừng bảo tôi im vì bạn im.

Joyce Anne Nguyen

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010

Con Tàu không bến ! Ông Nhà Nước ơi !Thương cha thương mẹ thương chồng, thương ông thì ít mà sợ ông thì nhiều ! Ông Nhà Nước ƠI !!

3/08/2010

Từ chuyện Vinashink – Con tàu không bến đến một cơ chế cần khai tử

Nguyễn Trung
imageI. Vinashink – Con tàu không bến
Với hơn 85 triệu người Việt Nam, chuyện các công ty quốc doanh hay các tập đoàn Nhà nước làm ăn thua lỗ nợ nần triền miên không là chuyện lạ. Do vậy, chuyện Vinashin chìm ngập trong nợ nần và trở thành Vinashink không phải là chuyện mới mẻ với người dân Việt Nam.
Sau khi con tàu Vinashin trở thành Vinashink thì đương kim Thủ tướng – ông Nguyễn Tấn Dũng – đã có kế hoạch “tái cấu trúc” con tàu Vinashink. Việc “tái cấu trúc” một doanh nghiệp cũng không có gì là lạ. Bởi vì mụch đích của việc “tái cấu trúc” một doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả là để doanh nghiệp hoạt động tốt hơn lúc trước.
Vậy thì, liệu kế hoạch “tái cấu trúc” của ông Thủ tướng vốn từng làm Y tá Nguyễn Tấn Dũng có thể cứu Vinashink thoát khỏi nợ nần để trở thành Vinashin như ông Thủ tướng và bộ sậu dưới quyền hy vọng và mong đợi hay không? Hay tệ hại hơn Vinashink sẽ mãi mãi chìm sâu dưới đáy biển bởi vì bài toán “tái cấu trúc” Vinashink là một phương trình không có nghiệm.
Đến lúc này, kế hoạch “tái cấu trúc” Vinashink chỉ mới bắt đầu. Do đó, câu trả lời cho những câu hỏi trên đây còn đang ở phía trước. Bởi lẽ, việc vực dậy một công ty đang chìm trong nợ nần thua lỗ có thể cần một thời gian từ 2 năm, 5 năm, 10 năm, và cũng có thể là công ty không bao giờ hồi sinh bởi đi không đúng hướng.
Nhưng nếu dựa vào những con số thực từ những người lãnh đạo quan trọng của Vinashink và lãnh đạo Chính phủ thì có thể thấy trước một tương lai mù mịt đầy đen tối đang chờ Vinsahink. Bởi vì, kế hoạch “tái cấu trúc” Vinashink của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không có điều gì khả quan ngoài những bất cập.
Thứ nhấtViệc chuyển nợ 20.000 tỷ đồng – tương đương 1 tỷ USD – cho PVN và Vinalines (1).
Chuyện tách rời các công ty con của Vinashink để nhập vào các tập đoàn nhà nước khác trong kế hoạch “tái cơ cấu” Vinashink là chuyện có thể chấp nhận. Nhưng việc Chính phủ cho phép “chuyển số nợ 1 tỷ USD” cho hai công ty PVN và Vinalines là việc làm không thể chấp nhận.
Việc chuyển 1 tỷ USD nợ cho PVN và Vinalines chỉ có thể chấp nhận với điều kiện là PVN và Vinalines chỉ giúp Vianshink trả món nợ 1 tỷ USD trước mắt. Còn về lâu về dài thì Vinashink vẫn phải có trách nhiệm hoàn trả lại món nợ 1 tỷ USD này. Đơn giản, Vinashink gây ra số nợ này thì Vinashink phải chịu trách nhiệm. Bởi vì, cho dù PVN và Vinalines có khả năng trả khoản nợ 1 tỷ USD này giúp cho Vinashink, nhưng nếu Vinashink không hoàn trả lại món nợ ân tình 1 tỷ USD này thì có nghĩa ngân sách Quốc gia – hay 85 triệu dân Việtnam – đã mất đi 1 tỷ USD. Lại bài ca “bù lỗ” muôn thuở mà hơn 85 triệu đã nhàm tai – nhưng “bù lỗ” 1 tỷ USD thì quả là khó mà chấp nhận.
Thứ haiKhông minh bạch trong con số nợ của Vinashink.
Theo lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ thì “Vinashin đã thành công trong 2 đợt phát hành trái phiếu liên tiếp 750 triệu, rồi 600 triệu USD” (2). Như vậy, số nợ của hai đợt trái phiếu là 1 tỷ 350 triệu USD.
Ngoài số nợ qua hai lần phát hành trái phiếu 1 tỷ 350 triệu USD trên đây, “Số liệu đã biết cho thấy ngoài phần trái phiếu Chính phủ, còn có khoảng 600 triệu USD Tập đoàn này tự vay của nước ngoài, không có bảo lãnh của Chính phủ” (3).
Vậy thì, kể cả số nợ qua hai lần phát hành trái phiếu do Chính phủ bảo trợ là 1 tỷ 350 triệu USD và 600 triệu USD mà Vinashink tự đi vay thì số nợ của Vinashink là 2 tỷ USD – làm tròn!
Trong khi đó, theo buổi họp báo do ông Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng chủ trì chiều ngày 4 tháng 8 thì […Tháng 6/2010, tổng tài sản của Vinashin khoảng 104.000 tỷ đồng nhưng gánh khoản nợ 86.000 tỷ đồng….] (4).
86.000 tỷ đồng tương đương 4 tỷ USDCâu hỏi được đặt ra ở đây là vì sao tổng số nợ của Vinashink lên đến 4 tỷ USD? Trong khi đó, tổng số nợ cả do Chính phủ bảo lãnh và do Vinashink tự đi vay chỉ có 2 tỷ USD!
Ai đã thò tay ký giấy để vay, để gây thêm món nợ 2 tỷ USD dôi ra kia và mượn vào lúc nào? Nơi nào đã cho Vinashink vay món nợ này? Và đã cho Vinashink vay với điều kiện gì? Tại sao Chính phủ mà người đại diện là ông PTT Nguyễn Sinh Hùng vốn quen ăn to nói lớn thế mà lại không trình bày rõ vì sao có sự chênh lệch 2 tỷ USD này cũng như làm rõ nguyên nhân vì đâu mà phát sinh món nợ đó? Là một Tiến sĩ kinh tế (chắc không phải bằng dỏm?), có quá khó khăn để ông PTT Nguyễn Sinh Hùng không nhận biết sự chênh lệch khủng khiếp đến như vậy hay không?
Thứ ba. Những con số ma – con số tổng giá trị hợp đồng của Vinashin bị khách hàng hủy bỏ vào năm 2008.
Theo lời ông tân Tổng Giám đốc (TGĐ) điều hành của Vinashink Trần Quang Vũ thì […..Khi Vinashin bắt đầu đóng tàu thì thị trường rất tốt, tàu tranh nhau đóng, các đơn đặt hàng rất nhiều. Đỉnh điểm có lúc chúng tôi ký được trên 5 tỷ USD đơn hàng, thậm chí 10 tỷ USD.….] (đã dẫn 2).
Còn theo buổi họp báo do ông Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng chủ trì chiều ngày 4 tháng 8 thì[…..Năm 2008 do khủng hoảng tài chính toàn cầu, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, Vinashin chịu tác động mạnh với số lượng hợp đồng bị hủy trị giá tới 8 tỷ USD. Riêng năm 2010, con số này là 700 triệu USD…] (đã dẫn 4).
Trong khi đó, theo lời của ông Phạm Thanh Bình trả lời báo chí trước khi bị bắt thì [….Khi trong tay tôi đã có cả mớ hợp đồng đóng tàu trị giá tới 17 tỷ USD mà tôi không đầu tư thì làm sao đáp ứng được nhu cầu của khách hàng….] (5).
Một ông tân TGĐ, một ông PTT, và một ông cựu TGĐ không có sự thống nhất trong con số giá trị của hợp đồng bị hủy của Vinashink. Tại sao con số ông tân TGĐ Trần Quang Vũ đưa ra là “trên 5 tỷ USD, thậm chí 10 tỷ USD”? Trong kinh doanh, không có từ “thậm chí” bao giờ! Chỉ có thể “Chúng tôi đã ký được 5 tỷ” hoặc là “Chúng tôi đã ký được 10 tỷ” chứ không có “thậm chí”!
Và con số giá trị hợp đồng 8 tỷ USD trong buổi họp báo chiều ngày 4 tháng 8 ở đâu chui ra? Tiếp đến là con số 17 tỷ USD như lời ông cựu Phạm Thanh Bình trả lời báo chí?
Dù hợp đồng đã bị hủy, nhưng thiết tưởng việc soát lại giá trị các hợp đồng không phải là khó. Việc làm một phép tính cộng đơn giản để biết được tổng giá trị các hợp đồng cũng không phải là quá khó khăn. Tại sao lãnh đạo của Vinashink và lãnh đạo của Chính phủ không biết được, không thể đưa ra con số thực của những hợp đồng bị hủy là bao nhiêu? Để rồi mỗi người đưa ra một con số khác nhau như vậy?
Có ba cách hiểu khi nhìn vào những con số 5 tỷ USD (thậm chí 10 tỷ USD), 8 tỷ USD và 17 tỷ USD mà các ông tân cựu TGĐ và ông PTT đưa ra như sau.
- Một là. Các ông này không không biết làm phép tính cộng đơn giản. Phép tính cộng mà những ai học hết lớp 5 là có thể làm được.
- Hai là. Các ông này là những người vô trách nhiệm. Cả hai ông tân cựu TGĐ và ông PTT Nguyễn Sinh Hùng là những người không có trách nhiệm với Vinashink và với Nhân Dân.
- Ba là. Các ông là những người nói láo để lừa Nhân Dân và những con số này đều không đáng tin cậy.
Dù là cách hiểu nào đi chăng nữa thì thật là đáng buồn khi mà những người có trách nhiệm quản lý một doanh nghiệp được mệnh danh là con tàu cứu cánh của nền công nghiệp đóng tàu lại thiếu trách nhiệm, quan liêu, và kém cỏi trong tính toán đến ngô nghê như vậy.
Thứ tư. Sự cố tình đánh lận con đen, sự lập lờ về con số giá trị hợp đồng bị hủy trong năm 2008.
Giá trị hợp đồng đóng tàu bị khách hàng hủy bỏ là 8 tỷ USD – tạm dùng con số của ông PTT Nguyễn Sinh Hùng. Theo lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ thì “Mỗi tàu 100.000 tấn là 100 triệu USD, tàu 350.000 tấn là hơn 200 triệu USD” (đã dẫn 2). Và cũng cứ tạm cho rằng giá trị tàu 350.000T là 250 triệu USD.
Xin tạm đặt giả thuyết là 8 tỉ USD này là hợp đồng để đóng hai loại tàu 100.000T và 350.000T và chia đồng 4 tỷ USD cho mỗi loại tàu. Vậy thì, với hợp đồng 4 tỷ USD, Vinashink đóng được 40 con tàu loại 100.000T. Còn với loại tàu 350.000T thì với giá trị hợp đồng 4 tỷ USD, Vinashink đóng được 16 tàu.
Như vậy, nếu giá trị hợp đồng 8 tỷ USD của năm 2008 không bị khách hàng hủy bỏ thì Vinashink phải đóng được 40 tàu 100.000T và 16 tàu 350.000T! Tổng cộng là 56 tàu để giao cho khách hàng. Một con số kỷ lục đáng nể và đáng mừng – nhưng là điều không tưởng đối với Vinashink – vì Vinashink không có khả năng làm chuyện này!
Qua đó, chỉ có thể hiểu rằng giá trị hợp đồng 8 tỷ USD là giá trị của hợp đồng đóng tàu kéo dài nhiều năm. Có thể có những hợp đồng mà phải đến năm 2013-2015 hoặc hơn, Vinashink mới giao tàu cho khách hàng. Năm 2008, khủng hoảng toàn cầu ảnh hưởng đến kinh tế là điều không thể chối cãi. Nhưng chưa chắc khách hàng sẽ hủy bỏ hết hợp đồng – nhất là những hợp đồng đến những năm 2013-2015, hoặc hơn mới giao tàu. Bởi lẽ, chưa chắc những hợp đồng này đã bị ảnh hưởng trực tiếp từ cơn khủng hoảng của năm 2008!
Theo lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ “Chúng tôi sẽ dùng tiền thu về từ việc sang nhượng công ty để tập trung các dự án dở dang. Có những tàu khoảng 1 tỷ USD chúng tôi chỉ còn thiếu 300-400 triệu USD là có thể hoàn thành” (đã dẫn 2). Điều này chỉ rõ khả năng Vinashink chỉ có thể hoàn thành số hợp đồng có giá trị từ 1–2 tỷ USD trong một năm! Và điều này khẳng định con số giá trị hợp đồng 8 tỷ USD là một giá trị hợp đồng kéo dài trong nhiều năm là đúng – không thể chối cãi.
Và cho dù khách hàng có hủy bỏ những hợp đồng yêu cầu giao tàu từ năm 2013-2015 thì Vinashink vẫn không bị ảnh hưởng trực tiếp hay bị thiệt hại trực tiếp trong khoảng thời gian 2008-2010. Và cho dù Vinashink có bị ảnh hưởng thì cũng không thể nào bị ảnh hưởng nặng nề để dẫn đến ngập chìm trong nợ nần đến như vậy. Bởi lẽ, Vinashink chưa tốn đồng xu cắc bạc nào để đầu tư cho những con tàu này. Không một công ty nào lại ngu ngốc đi đóng tàu những 5-7 năm trước ngày giao tàu cho khách trong hợp đồng. Nhất là những con tàu chỉ cần thời hạn 1-2 năm là có thể hoàn thành.
Còn nếu Vinashink bị thiệt hại trực tiếp vì Vinashink đã đầu tư các nhà máy đóng tàu sau khi có hợp đồng 8 tỷ USD – hay theo như lời ông cựu Phạm Thanh Bình [….Khi trong tay tôi đã có cả mớ hợp đồng đóng tàu trị giá tới 17 tỷ USD mà tôi không đầu tư thì làm sao đáp ứng được nhu cầu của khách hàng….] thì những khách hàng của Vinashink là những khách hàng ngu ngốc – những khách hàng thuộc loại trong đầu chứa đầy đất sét.
Bởi lẽ, không khách hàng nào lại đi ký hợp đồng đóng tàu có giá trị cả 8 tỷ USD khi mà đối tác chưa có cơ sở sản xuất, chưa có nhà máy để đóng hoàn thiện các con tàu mà khách hàng muốn mua. Xin thưa, các công ty vận tải đường biển nước ngoài thường là các công ty tư nhân. Chủ cả của các công ty này thường là triệu phú hay tỷ phú sau nhiều năm gây dựng sự nghiệp trong thương trường. Với họ, thương trường là chiến trường chứ không phải nơi trà dư tửu hậu để làm nơi giải sầu tiêu khiển với những hợp đồng nửa vời.
Những người chủ, lãnh đạo các công ty vận tải đường biển này là những người khôn nẻ vỏ chứ không phải dân ngu si mà có thể bị lừa bởi cái cung cách làm ăn theo lối tiểu thương “mượn đầu heo nấu cháo. Cung cách làm ăn ma mãnh này của dân lường gạt, phường ma mãnh chỉ có thể dùng với những người nhẹ dạ cả tin ngu ngốc mà thôi. Cò đối với những tay trùm này thì đừng có nằm mơ!
Còn nếu Vinashink có thể thuyết phục khách hàng đặt mua số lượng tàu có giá trị đến 8 tỷ USDmà Vinashink chưa có cơ sở sản xuất, nhà máy để hoàn thành số hợp đồng này thì đây là một điều kỳ tài của ông Phạm Thanh Bình và bộ sậu dưới trướng.
Nhưng đây là một điều đáng buồn hơn đáng vui. Bởi vì, Vinashink đã đi lường gạt khách hàng. Do đó, một khi khách hàng biết được sự gian dối này của Vinashink thì tất cả “thượng đế” đã bỏ Vinashink ra đi không một lời từ giã là điều dễ hiểu. Trong môi trường kinh doanh lành mạnh, nhất là vào cái thời Việt Nam đã gia nhập WTO, thì những kiểu làm ăn với đầu óc tiểu thương, quen thói lường gạt chỉ có hại cho Việt Nam hơn là có lợi.
Trong buổi họp báo chiều ngày 4 tháng 8 thì vào năm nay (2010) giá trị hợp đồng bị khách hàng hủy bỏ “là 700 triệu USD” (xem chú thích 4)Điều này khẳng định Chính phủ cho rằng số hợp đồng giá trị 8 tỷ USD bị khách hàng hủy bỏ là giá trị hợp đồng mà Vinashink phải giao tàu cho khách hàng trong năm 2008. Như vậy, Chính phủ mà người đại diện là ông PTT Nguyễn Sinh Hùng đã cố tình đưa ra con số hợp đồng bị hủy giá trị 8 tỷ USD hòng đánh lừa dư luận.
Theo phân tích ở trên – để đóng được 40 con tàu loại 100.000T và 16 con tàu loại 350.000T trong một năm – là điều “không tưởng” với Vinashink. Cùng với những dự án dở dang của Vinashink qua lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ, có thể kết luận rằng con số 8 tỷ USD mà ông PTT Nguyễn Sinh Hùng rao to lên là một con số của sự dối trá, lừa gạt đầy trơ trẽn chỉ có thể đánh lừa được những người kém trí hay bọn trẻ lên ba mà thôi.
Đằng sau âm mưu của cú lừa này là gì? Động cơ nào đã khiến ông PPT Nguyễn Sinh Hùng đích thân đi đánh cú lừa với hơn 85 triệu người Việt Nam như vậy? Và có phải ông PTT cùng cấp trên của ông ta đã nghĩ rằng hơn 85 triệu người dân Việt Nam là một bầy cừu. Do đó, ông PTT Nguyễn Sinh Hùng và cấp trên của mình muốn đưa con số nào thì đưa, muốn nói sao thì nói hay không?
Thứ nămSự lập lờ trong khái niệm nợ.
Theo lời ông tân TGĐ trả lời vitinfo ngày 10 tháng 7 thì […Tất nhiên, món nợ ngoài ý nghĩa là nợ thì nó còn hình thành nên tài sản của chúng tôi, chứ không phải hoàn toàn là 60 nghìn tỷ đồng. Phần hình thành các nhà máy, các cơ sở sản xuất của chúng tôi cũng chiếm khoảng 40 nghìn tỷ đồng trong đó, còn lại chỉ có 20 nghìn tỷ đồng là vốn lưu động. Cho nên, khi thị trường kích hoạt trở lại thì chúng tôi hoàn toàn có khả năng trả nợ được…] (6).
Một lối kiến giải hết sức ấu trĩ. Dù 40.000 tỷ đồng nợ này hiện là tài sản như cơ sở sản xuất, nhà máy đóng tàu của Vinashink. Nhưng số tài sản này không phải từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất mọc lên. Số tài sản này có từ tiền Vinashink đi vay mượn mà có. Do đó, một khi Vinashink chưa có khả năng trả hết nợ gốc – trả hết số tiền vay mượn để đầu tư máy móc, xây dựng những cơ sở, những tài sản này thì Vinashink vẫn phải trả tiền lời hàng tháng cũng như vẫn phải trả khoản nợ mà Vinashink đã vay! Vì vậy, 40.000 tỷ đồng này vẫn là một gánh nặng của Vinashink – Vinashink không thể thoát được nó – trừ phi Vinashink hoàn trả hết cho chủ nợ.
Là tân TGĐ của Vinashink, tại sao ông Trần Quang Vũ lại có cách kiến giải ấu trĩ như vậy? Có phải ông tân TGĐ Trần Quang Vũ muốn dùng chiêu “lập lờ” hòng đánh lừa dư luận hay không? Thiết tưởng, ông tân TGĐ Trần Quang Vũ nên có cái nhìn đúng với thực trạng của Vinashink lúc này. Bởi lẽ, con tàu Vinashink chìm ngập trong nợ nần hôm nay là hệ quả của sự gian dối của ông cựu TGĐ Phạm Thanh Bình.
Thứ sáu. Sự lạc quan tếu về khả năng phục hồi của Vinashink.
Một là. Theo lời ông Nguyễn Xuân Phúc trong buổi họp báo chiều ngày 4 tháng 8 thì “Sau khi tính toán sơ bộ, Hội đồng quản trị Vinashin dự báo các năm 2010-2012 sẽ còn lỗ nhưng năm 2013, 2014 sẽ bắt đầu có lãi và sau 2015 phát triển ổn định" (đã dẫn 4). Điều này cho thấy sự hời hợt của Chính phủ cũng như lãnh đạo chủ chốt của Vinashink. Một công ty đang ngập chìm trong nợ nần như Vinashink để rồi Chính phủ phải “chẻ làm ba” thì kế hoạch vực dậy, sự tính toán không thể nào bằng mấy chữ “sơ bộ” bao giờ!
Hai là. Theo lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ thì […Ví dụ như các nhà máy lớn của chúng tôi hoàn toàn có thể làm được 15-20 tàu cỡ 53 nghìn tấn mỗi năm. Mà chúng ta biết là tổ chức sản xuất tốt thì một con tàu chúng tôi lãi từ 3-5 triệu USD, sản xuất không ra gì thì mới lỗ. Và với sản lượng khi phục hồi trở lại, chúng tôi hoàn toàn có khả năng tạo ta lợi nhuận để trả món nợ này…](đã dẫn 6).
Hạ thủy một con tàu 53.000T để giao cho khách hàng với giá 50 triệu USD, Vinashink lời từ 3-5 triệu USD. Có nghĩa tiền lời dao động từ 6%-10% với điều kiện Vinashink giao tàu đúng hoặc trước thời hạn. Còn nếu giao tàu sau thời hạn thì lỗ.
Hiện nay, Vinashink nợ 1 tỷ USD vốn lưu động và 2 tỷ USD vốn đầu tư vào các nhà máy, cơ sở đóng tàu. Tạm cho rằng những lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ là đúng thì Vinashink có thể thu hồi số vốn 1 tỷ USD sau khi đầu tư thêm 300-400 triệu USD cho những dự án dở dang này (đã dẫn 2). Nhưng ít nhất phải đến cuối năm 2011 thì Vinashink mới có thể giải quyết sạch sẽ số dự án này để thu hồi 1 tỷ USD.
Như vậy, trong hai năm 2010-2011, Vinashink phải trả tiền lời cho 3 tỷ USD nợ. Nếu phân lời 2.5% thì một năm Vinashink phải trả 75 triệu USD. Còn nếu phân lời là 5% thì Vinashink phải trả 150 triệu USD. Và số tiền này chỉ là tiền lời – chưa phải tiền gốc.
Trong khi đó, khi bán một con tàu 53.000T với giá 50 triệu USD, Vinashink chỉ thu lời từ 3-5 triệu USD. Vậy thì, với phân lời 2.5% trên tổng số nợ, Vinashink phải xuất xưởng 15 con tàu 53.000T một năm. Còn nếu phân lời vốn vay là 5% thì Vinashink phải bán được 30 con tàu 53.000T một năm. Số tiền lời bán được từ những con tàu này chỉ đủ để trả tiền lãi phát sinh mà thôi chứ chưa đụng chạm tới tiền gốc 3 tỷ USD Vinashink đang nợ! Vậy thì, bao giờ Vinashink sẽ có khả năng hoàn trả hết số nợ 2-3 tỷ USD mà Vinashink đã vay???
Qua những điều bất cập trên đây, có thể khẳng định rằng kế hoạch “tái cấu trúc” Vinashink của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ là kế hoạch nửa vời của những người hoang tưởng. Hoặc giả là của những người “Thầy bói (mù) xem voi” mà thôi.
II. Một cơ chế cần khai tử
Ngoài việc nợ nần như chúa chổm của Vinashink khiến dư luận quan ngại, có những vấn đề khác khiến người dân lo ngại không kém. Đó là chuyện các doanh nghiệp Nhà nước tự đi vay vốn mà không có sự bảo trợ của Chính phủ. Và tất nhiên là vay nợ mà Chính phủ không biết thì việc dùng số tiền làm gì Chính phủ cũng không hay là điều đương nhiên.
Tính đến nay thì có hai doanh nghiệp đã “lộ mặt” chuyện này. Đó là TKV dưới thời ông cựu Kiển –và nay là Vinashink. Việt Nam hiện có bao nhiêu doanh nghiệp Nhà nước đã, đang, và sẽ đi mượn nợ kiểu này – và số nợ đã vay là bao nhiêu? Có lẽ, 85 triệu người dân Việt Nam rất muốn biết con số thực của vấn đề này. Nhưng có lẽ, người dân Việt Nam phải mua thuốc trợ tim uống trước. Đơn giản, 85 triệu dân Việt Nam hôm nay, cùng con cháu họ sẽ cật lực làm để trả nợ cho Chính phủ được gây ra bởi các tập đoàn con cưng của Chính phủ. Những tập đoàn kinh tế mà hiệu quả kinh tế thì kém cỏi nhưng theo lời các vị Bộ trưởng thì “hiệu quả chính trị, hiệu quả xã hội vẫn tốt”!
Những vấn nạn mà theo lời của ông PTT Nguyễn Sinh Hùng là “Tôi nhấn mạnh một lần nữa việc kiểm soát trước còn nhiều yếu kém . Yếu kém này là do cơ chế” (đã dẫn 3).
Xin được liệt kê ra xem có bao nhiêu vấn đề đã khiến cho Đất nước đi thụt lùi:
Tham nhũng: cơ chế
Chạy chức: cơ chế
Bằng giả: cơ chế
Công an đánh chết người: cơ chế
Xử lý môi trường yếu kém: cơ chế
Chất lượng và hiệu quả công trình kém: cơ chế
Chính phủ không quản lý được các tỉnh trong việc thuê đất rừng đầu nguồn: cơ chế.
Quan chức kiêm một lúc nhiều nhiệm vụ (như Chủ tịch tỉnh & Đại biểu QH) nên làm việc chả ra đâu vào đâu mà theo như lời ông Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ tịch QH là “Cõng em thì khỏi xay lúa”: cơ chế
Người có thực tài không được nhận vào những chức vụ quan trọng của Chính phủ: cơ chế
Cơ man nào là cơ chế và cơ chế nào cũng hung hiểm như bệnh nan y khiến cho Việt Nam không thành rồng thành hổ. Vậy thì, đã đến lúc khai tử cái cơ chế này – đó là cách duy nhất để Việt Nam thành Rồng nơi biển lớn– còn không thì Việt Nam mãi là Rồng nơi lỗ chân trâu mà thôi!
NT
HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
bvnposthttp://www.blogger.com/img/icon18_email.gifhttp://img2.blogblog.com/img/icon18_edit_allbkg.gif