Bài đăng Phổ biến
-
Việt Nam tuyên bố chính sách quốc phòng ‘ba không’ Thursday, August 26, 2010 Tàu ngầm Trung Quốc cắm cờ dưới đáy biển Đông HÀ NỘ...
-
Người Hà Nội - Thời đồ bành Chính trị - xã hội Ng. Nh. Phong Một nhân vật khá đặc biệt, học hành không đến nơi đến chốn, khởi nghiệp từ b...
-
hậm từng giọt chữ… Nguyễn Ngọc Tư Có lần ngồi nói chuyện văn chương với Già, ông nói bây giờ người ta đọc nhiều nhưng không đọc kỹ… Bạn thấ...
-
Chính Nghĩa VNCH ( SaGiang Úc Châu ) Chế Độ VNCH và XHCN miền Bắc. Đâu là Chín...
-
How do I put AdSense on my blog (using Layouts)? Học sinh Việt Nam sống đói rách, học hành nhếch nhác trong một hệ thống giáo dục tệ hại ra...
-
3/08/2010 Từ chuyện Vinashink – Con tàu không bến đến một cơ chế cần khai tử Nguyễn Trung I. Vinashink – Con tàu không bến Với hơn 85 triệu ...
Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2011
Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010
Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010
Đừng bảo tôi im vì bạn im. ( Đặt tên giùm Tác Giả )
Bài viết không có tựa
Joyce Anne Nguyen
Joyce Anne Nguyen

Có đôi khi suy nghĩ, tôi chợt cảm thấy có lẽ mình nên bỏ tất cả. Bỏ tất cả việc viết lách này. Có rất nhiều lý do để tôi không nên tiếp tục viết.
Tôi 16 tuổi, ở tuổi này như những người đồng trang lứa tôi nên chú tâm học hành và có những mối quan tâm phù hợp với lứa tuổi.
Tôi không bị ép buộc phải lên tiếng, và tôi không đủ tư cách để lên tiếng và kêu gọi người khác phải đứng dậy tranh đấu cho quyền lợi cá nhân và thay thế 1 chế độ khác với những nhà cầm quyền khác, bởi dù gì tôi cũng đang sống ở nước khác, tôi là kẻ hèn nhát đứng từ xa hò hét kêu gọi, khi có chuyện tôi không phải cam chịu gì cả, và tôi nói gì cũng được, gào gì cũng được.
Có đôi khi tôi cảm thấy nhục nhã và ghê tởm với bản thân. Và có lẽ sự im lặng là lựa chọn tốt hơn cho tôi. Có nhiều lúc tôi cảm thấy như vậy. Dù tôi có viết hàng trăm, hàng ngàn bài, cũng không có điều gì xảy ra. Mọi việc đều diễn ra như vậy. Vô số người đã viết, vô số người đã lên tiếng, vô số người đã đấu tranh và cống hiến cho phong trào đấu tranh dân chủ, nhưng cũng không có gì thay đổi. Việc viết lách của tôi nói chung cũng không có lợi gì. Ko tạo nên 1 sự thay đổi. Cũng không thuyết phục hay lôi kéo được ai. Rất nhiều người cũng đã bảo VN không cần những người như tôi, và thay vì chê bai chế độ, không đóng góp, có lẽ tôi nên ngậm họng và sống cho đất nước tôi đang sống.
Có đôi khi tôi cảm thấy mình là 1 kẻ hèn nhát. Dĩ nhiên khi ở VN, tôi không viết, ý tôi là tôi có viết về những bức xúc trong xã hội nhưng không viết về chính trị chẳng phải vì tôi sợ, mà trong nước tôi chưa kịp thấy nhiều để ý thức được người dân trong nước không may mắn như thế nào. Chỉ khi được đến 1 đất nước khác và đi 1 số nơi, tôi mới thấy 1 số điều và so sánh, tôi mới bắt đầu viết về chủ đề này. Nhưng có lẽ tôi nói chung cũng vẫn là 1 kẻ hèn nhát to miệng, kêu gọi người dân trong nước đứng lên phản kháng, trong khi mình đã an toàn.
Có lẽ tôi nên im lặng. Và mọi người cùng im lặng.
Chúng ta hãy cùng ngồi yên và chấp nhận hoàn cảnh, với suy nghĩ mọi nước đều có vấn đề, khó khăn riêng, và mỗi chế độ đều có cái tốt cái xấu của nó.
Chúng ta hãy cùng im lặng và lờ đi những vấn nạn của đất nước, với an ủi rằng đất nước dù sao cũng đang tiến bộ.
Chúng ta hãy cùng im lặng và tin tưởng rằng việc im lặng chấp nhận sẽ giúp đất nước bình yên.
Chúng ta hãy dùng từ “nhạy cảm” để né tránh mỗi khi bất kỳ ai đề cập đến vấn đề an ninh lãnh thổ.
Chúng ta hãy tập trung học hành, làm việc và đừng quan tâm đến chính trị.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để TQ kéo sang tiến hành dự án bauxite ở Tây Nguyên, hủy hoại môi trường sống, giết chết sinh vật, gây bệnh tật cho đồng bào ta, và từ từ chiếm phần trung tâm của đất nước ta.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để TQ thuê rừng đầu nguồn và chấp nhận tất cả những hậu quả của nó như sự ảnh hưởng đến sinh thái và lũ lụt, và để dân TQ kéo sang VN sống.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, và để đồng bào ta bị đánh cướp hoặc giết chết ngoài biển Đông.
Chúng ta hãy ngồi yên đó, để tấm bản đồ lưỡi bò đi khắp TG, và mọi người dần dần tin rằng biển Đông thuộc về TQ, HS- TS thuộc về TQ.
Chúng ta hãy nhắm mắt lại, và ngưng việc đọc báo đi, để tưởng tượng rằng không có điều gì tồi tệ xảy ra và đất nước vẫn đang phát triển.
Nhưng liệu tôi, và bạn có thể làm được thế ko?
Nếu muốn, tôi có thể quên VN đi. Tôi có thể chỉ nên sống cho Na Uy. Và bất kỳ cái gì khác. Bạn cũng vậy. Nhưng liệu chúng ta có thể làm được như thế ko?
Mọi chuyện có lẽ sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều nếu không có những vấn đề với TQ. Bây giờ ai cũng biết tình hình giữa TQ và VN đã nghiêm trọng như thế nào. Ko, đừng nói với tôi VN là nước nhỏ. Ko, đừng nói với tôi VN xui xẻo nằm quá gần 1 đất nước đầy tham vọng bá quyền như TQ. VN không phải là nước nhỏ duy nhất phải chống chọi với 1 nước lớn. VN không phải là nước duy nhất nằm gần TQ. Tôi biết tôi không thể làm được gì cả. Tôi là 1 cá nhân, và 1 cá nhân chỉ là được những việc nhỏ nhặt trong giới hạn của 1 cá nhân. Nhưng nếu nhiều cá nhân gộp lại?“Don’t wait for leaders; do it alone, person to person.”- Mother Teresa. Nếu VN phải đối mặt với TQ, nếu nhân dân VN phải đối mặt với nguy cơ mất nước, ai sẽ cứu VN ngoài chính người dân VN? Mỹ ư? Ồ không bạn ạ, người Mỹ chỉ làm những gì tốt nhất cho nước Mỹ, đừng quên Mỹ đang mắc nợ TQ, và đừng quên không có lý do cụ thể nào để Mỹ phải giúp đỡ VN. Hay 1 vị Bụt hiện ra hỏi “Vì sao con khóc?” và phẩy cây phất trần biến điều ước trở thành hiện thực? Phật có câu “No one saves us but ourselves. No one can and no one may. We ourselves must walk the path.” “It’s a dirty world out there, but if no one agrees to do the cleaning, the whole country goes down a shit house.”- Vikas Swarup.
Tôi đủ tỉnh táo để hiểu những bài viết của tôi không đem lại 1 sự thay đổi cụ thể nào. Có 1 số người đã hỏi thẳng, tôi nhận được bao nhiêu tiền để viết. Tôi cảm thấy hổ thẹn cho họ. Tôi sẽ không giải thích, tôi chỉ đơn giản trích 1 câu của Isabel Allende “How can one not write about war, poverty and inequality when people who suffer from these afflictions don’t have a voice to speak?” Nếu bạn hoàn toàn cho rằng việc viết lách là vô bổ, đừng quên trong chiến tranh không phải ai cũng tham gia chiến đấu, có những người chiến đấu bằng ngòi bút. Có những người đóng góp theo cách riêng của họ.
Mọi người biết việc viết lách không đem lại ích lợi gì nhiều. Vô số người đã viết. Vô số người đã lên tiếng. Ko có gì được thay đổi. Bản kiến nghị phản đối dự án bauxite được rất nhiều người ký tên cuối cùng cũng bị bỏ mặc. Những người biểu tình phản đối TQ bị bắt. Blogger bị bắt và bỏ tù. Ko có gì được thay đổi. Nhà nước vẫn tiếp tục làm việc của họ. Họ vẫn chặn facebook. Họ vẫn kiểm soát thông tin. Họ vẫn cấm nhắc tên Hoàng Sa Trường Sa trên game online. Họ vẫn treo băng rôn chúc mừng quốc khánh TQ. Họ vẫn xử tù người bất đồng chính kiến. Họ vẫn tiến hành dự án bauxite Tây Nguyên. Họ vẫn tiến hành dự án điện hạt nhân. Họ vẫn cho thuê TQ thuê rừng đầu nguồn. Họ vẫn.. Họ vẫn…

Nhưng thay vì đặt câu hỏi tại sao tôi lại viết dù biết việc lên tiếng không đem lại ích lợi, tại sao bạn không hỏi vì sao đã rất nhiều người lên tiếng nhưng vẫn không có điều gì thay đổi? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ hoàn toàn không quan tâm đến nhân dân? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không cho phép nhân dân biểu tình hoặc chỉ đơn giản là cất tiếng nói? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ gạt ngang không đếm xỉa đến bản kiến nghị phản đối 1 dự án gây tác hại trầm trọng đến môi trường, sự sống, và cả an ninh, lãnh thổ đất nước? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ chặn blog, chặn website? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi dân oan khiếu kiện, họ không bao giờ giải quyết? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không đầu tư công sức vào nền giáo dục, tiếp tục những trò cải cách chạy vòng quanh không cần thiết, bằng cách lấy kiến thức năm này đắp vào năm khác và quay vòng? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không giải quyết vấn đề tham nhũng trầm trọng và giải thích VN không phải là nước tham nhũng nhất TG và quốc gia nào cũng có? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không màng đến vấn đề giao thông, để hàng chục ngàn người chết mỗi năm vì tai nạn giao thông, và phần lớn vì đường sá chật chội, đầy “lô cốt”, kém chất lượng và gây ra nhiều cái chết phi lý? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ xem nhân dân là con cái không được phép cãi lời và “hàng xóm” không cần can thiệp? Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ lên nắm quyền khi nhân dân không biết họ là ai để bầu cho họ? Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ dù làm bất kỳ điều gì, vẫn tiếp tục giữ cái ghế của mình? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ e ngại mọi sự so sánh và kết luận đó là vọng ngoại và phản quốc? Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không dám nhìn thẳng vào khuyết điểm và huyễn hoặc nhân dân rằng mọi đất nước đều có vấn đề riêng và đất nước ta đang ngày càng tiến bộ?
Ở đây tôi chỉ muốn nói lên vấn đề ý thức. Tôi không có ý định tung hô nước ngoài như nhiều người sẵn sàng chụp mũ. Tôi chỉ đưa ra 1 vài so sánh. Trong ý thức người dân cũng như người lãnh đạo ở những quốc gia có tự do dân chủ, nhà nước được nhân dân bầu lên, và tồn tại vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Nhân dân đóng thuế nuôi các ông lãnh đạo, và khi các ông làm việc không tốt, các ông phải nghe phê bình, và có thể bị phế truất. Có rất nhiều người vẫn thường lầm lẫn giữa khái niệm yêu nước và yêu nhà nước. Tất cả đơn thuần chỉ là trò chơi đánh tráo khái niệm. 1 kiểu áp đặt thường thấy. Quốc gia dân tộc là cái trường tồn. Nhà nước là cái tồn tại tạm thời. Khi 2 cái đi ngược nhau, tôi không nghĩ tôi nên chọn cái ngắn thay vì cái dài. Có nhiều người sẽ bảo tôi là kẻ vô ơn. Rằng tôi sinh ra và lớn lên dưới chế độ này, tôi ăn cơm trong chế độ này, tôi đi học trong chế độ này, tôi phải mang ơn thay vì phản chủ. 1 lần nữa phải nhấn mạnh, đây chỉ là vấn đề ý thức. Ko biết vì lý do gì, dường như người dân VN có thói quen thường sợ hãi và mang ý thức mình đang mang ơn nhà nước. Trong khi thực tế nhà nước lập ra để lèo lái đất nước, và đại diện cho quyền lợi của nhân dân. Tôi phải biết ơn à? Tôi đã nhìn thấy các ông lãnh đạo như thế nào. 1 tờ báo chính thức trong nước từng viết, phải mất 175 năm để VN đuổi kịp Singapore, với điều kiện Singapore đứng yên- điều này là không thể. GDP cũng tụt hàng trên TG. Tôi phải biết ơn đất nước vì đã độc lập, tự do, hạnh phúc à? Ta độc lập mà ta không dám nhắc đến mối quan hệ VN- TQ? Ta độc lập mà ta không dám biểu tình chống TQ? Hạnh phúc? Hạnh phúc mà sau này vô số người vẫn tìm cách bỏ đi, bằng cách này hay cách khác, hôn nhân, du học, lao động hợp tác, làm giấy tờ giả…? Hạnh phúc mà đa phần những người đã đi đều không muốn về nước sống?
Tôi sẽ bị xem là kẻ hèn nhát. Tôi không dám ở ngay trong nước hô hào. Tôi thừa nhận, có nhiều lúc tôi đã tự cảm thấy mình là 1 kẻ hèn nhát. Tôi đi. Tôi không ở lại. Nhưng cách đây không lâu, ở trường tôi có buổi giới thiệu về 1 số trường ĐH ở Na Uy và ở những nước khác như Anh, Úc, Mỹ, New Zealand… có 1 tấm bảng có dòng chữ lớn: “Do something for your country: LEAVE.” May mắn được đi, tôi có những quyền tôi không thể có trong nước. May mắn được đi, bằng những bài viết, dù có thể là vô bổ, tôi đóng góp 1 phần nào đó. May mắn được đi, tôi có cơ hội mở rộng tầm nhìn, và so sánh sự khác biệt giữa 2 TG (tôi thích nói là 2 TG). Những người e ngại sự so sánh không thể nhìn thẳng vào những khuyết điểm và hạn chế của bản thân để chỉnh sửa và tiến bộ. So sánh là cần thiết. So sánh dẫn đến cạnh tranh. Cạnh tranh giúp phát triển. Thử tưởng tượng, nếu cả 1 khu vực bạn sống chỉ có 1 tiệm giày. Bạn không còn lựa chọn nào khác, dù đẹp dù xấu bạn cũng phải vào đó mua giày. Nhưng nếu có khoảng chục tiệm giày, à không nhất thiết, có 2 tiệm giày thôi cũng được, bạn được quyền lựa chọn vào tiệm A hay tiệm B, và để thu hút khách hàng, mỗi tiệm dĩ nhiên phải cạnh tranh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tương tự với chính trị. Ồ vâng bạn sẽ nghĩ tôi là đứa tâm thần khi so sánh chính quyền với tiệm giày, nhưng tôi chỉ đang phân tích. Nếu có nhiều đảng, các đảng phải cạnh tranh nhau, đưa ra nhiều chính sách vì nhân dân và đất nước, và người dân dĩ nhiên sẽ bỏ phiếu cho cái đảng có nhiều chính sách tối ưu hơn. Nhưng nếu chỉ có 1 đảng duy nhất, và đặc biệt những người lãnh đạo không bao giờ bị bắt lỗi, không bao giờ bị phê bình, không bao giờ bị phế truất, các ông muốn làm bao lâu cũng được, ngồi đó bao lâu cũng được. Ko phải rõ ràng là trong trường hợp đó, cái đảng duy nhất này có thể làm bất kỳ điều gì, kể cả những việc có hại cho đất nước sao?
Trong bài viết “Ai không muốn được tự do?”, tôi đã có đề cập đến sự tự do. Vấn đề chỉ là khái niệm về tự do. Khi con người đã sống quá lâu trong 1 xã hội nơi họ không được phép có tư duy độc lập và phát biểu ý kiến thực sự của mình, họ dần dần quên mất lẽ ra là con người, họ nên có quyền cất tiếng nói. Trong nghệ thuật, nếu có khuôn mẫu định sẵn và 1 dây xích kìm hãm, người nghệ sĩ không thể làm việc với toàn bộ khả năng của mình. Thiếu tự do, con người bị kìm hãm, khả năng bị giới hạn. Cũng như trong đời sống. Albert Camus từng nói “A free press, of course, can be good or bad, but most certainly, without freedom, a press will never be anything but bad.” Nói mỗi nước đều có tự do dân chủ, chỉ là chế độ khác biệt nên sự dân chủ có màu sắc khác nhau chỉ là lối né tránh cái thực tế chẳng có tự do dân chủ. Nói mỗi nước đều có vấn đề, không có chế độ nào hoàn hảo chỉ là 1 lối lấp liếm không dám nhìn thẳng vào những khuyết điểm của mình.
Đúng, không có chế độ nào 100% hoàn hảo. Nhưng cho đến nay, qua thời gian, đến sự tiến bộ hiện nay của loài người, chế độ dân chủ được xem là lựa chọn tốt nhất. Nhưng có lẽ con chim bị nhốt quá lâu trong lồng khi nhìn thấy cửa mở cũng rụt lại không dám bay ra TG rộng lớn bên ngoài. Có lẽ con người sợ hãi sự thay đổi. Thay vì góp sức vào 1 sự thay đổi, thay vì đứng lên bảo vệ cho quyền lợi của chính bản thân mình, họ ngồi yên chấp nhận thực tế và họ tìm cách lơ đi những vấn nạn của đất nước. Erich Fried có câu nói nổi tiếng được viết ngay trên phần còn sót lại của bức tường
Nếu muốn, tôi có thể đáp máy bay về nước, có thể để bị bắt và ngồi tù, lúc đó mọi người sẽ biết đến tôi, sẽ cuối cùng công nhận tôi chứng minh được những gì mình đang nói thay vì khoác lác phô trương, sẽ cuối cùng ban cho tôi 1 danh hiệu, hay 1 tấm bằng khen để sau này ra tù tôi treo trong nhà và tự hào giới thiệu mỗi khi khách đến, nhưng liệu điều ấy có giúp ích được gì ko? Ý tôi không phải bảo việc ngồi tù là vô bổ. Tôi rất nể trọng và kính phục những người đã dám lên tiếng và chấp nhận việc ngồi tù là 1 cái giá của việc tranh đấu của mình. Tôi thực sự rất nể trọng họ. Và cảm thấy những gì mình làm chẳng là chút gì so với những gì họ đã làm. Và nhiều lúc cảm thấy bản thân là 1 kẻ hèn nhát đáng ghê tởm.
Nhưng..
Đừng bảo tôi im vì tôi sống ở Na Uy.
Đừng bảo tôi im vì tôi 16 tuổi.
Đừng bảo tôi im và bảo tôi chưa đủ trải nghiệm.
Đừng bảo tôi im và bảo tôi thiếu hiểu biết.
Đừng bảo tôi im và kết tội tôi chỉ copy và paste.
Đừng bảo tôi im vì bạn im.
Joyce Anne Nguyen
Thứ Ba, 16 tháng 11, 2010
Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2010
Con Tàu không bến ! Ông Nhà Nước ơi !Thương cha thương mẹ thương chồng, thương ông thì ít mà sợ ông thì nhiều ! Ông Nhà Nước ƠI !!
3/08/2010
Từ chuyện Vinashink – Con tàu không bến đến một cơ chế cần khai tử
Nguyễn Trung
Với hơn 85 triệu người Việt Nam, chuyện các công ty quốc doanh hay các tập đoàn Nhà nước làm ăn thua lỗ nợ nần triền miên không là chuyện lạ. Do vậy, chuyện Vinashin chìm ngập trong nợ nần và trở thành Vinashink không phải là chuyện mới mẻ với người dân Việt Nam.
Sau khi con tàu Vinashin trở thành Vinashink thì đương kim Thủ tướng – ông Nguyễn Tấn Dũng – đã có kế hoạch “tái cấu trúc” con tàu Vinashink. Việc “tái cấu trúc” một doanh nghiệp cũng không có gì là lạ. Bởi vì mụch đích của việc “tái cấu trúc” một doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả là để doanh nghiệp hoạt động tốt hơn lúc trước.
Vậy thì, liệu kế hoạch “tái cấu trúc” của ông Thủ tướng vốn từng làm Y tá Nguyễn Tấn Dũng có thể cứu Vinashink thoát khỏi nợ nần để trở thành Vinashin như ông Thủ tướng và bộ sậu dưới quyền hy vọng và mong đợi hay không? Hay tệ hại hơn Vinashink sẽ mãi mãi chìm sâu dưới đáy biển bởi vì bài toán “tái cấu trúc” Vinashink là một phương trình không có nghiệm.
Đến lúc này, kế hoạch “tái cấu trúc” Vinashink chỉ mới bắt đầu. Do đó, câu trả lời cho những câu hỏi trên đây còn đang ở phía trước. Bởi lẽ, việc vực dậy một công ty đang chìm trong nợ nần thua lỗ có thể cần một thời gian từ 2 năm, 5 năm, 10 năm, và cũng có thể là công ty không bao giờ hồi sinh bởi đi không đúng hướng.
Nhưng nếu dựa vào những con số thực từ những người lãnh đạo quan trọng của Vinashink và lãnh đạo Chính phủ thì có thể thấy trước một tương lai mù mịt đầy đen tối đang chờ Vinsahink. Bởi vì, kế hoạch “tái cấu trúc” Vinashink của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không có điều gì khả quan ngoài những bất cập.
Thứ nhất. Việc chuyển nợ 20.000 tỷ đồng – tương đương 1 tỷ USD – cho PVN và Vinalines (1).
Chuyện tách rời các công ty con của Vinashink để nhập vào các tập đoàn nhà nước khác trong kế hoạch “tái cơ cấu” Vinashink là chuyện có thể chấp nhận. Nhưng việc Chính phủ cho phép “chuyển số nợ 1 tỷ USD” cho hai công ty PVN và Vinalines là việc làm không thể chấp nhận.
Việc chuyển 1 tỷ USD nợ cho PVN và Vinalines chỉ có thể chấp nhận với điều kiện là PVN và Vinalines chỉ giúp Vianshink trả món nợ 1 tỷ USD trước mắt. Còn về lâu về dài thì Vinashink vẫn phải có trách nhiệm hoàn trả lại món nợ 1 tỷ USD này. Đơn giản, Vinashink gây ra số nợ này thì Vinashink phải chịu trách nhiệm. Bởi vì, cho dù PVN và Vinalines có khả năng trả khoản nợ 1 tỷ USD này giúp cho Vinashink, nhưng nếu Vinashink không hoàn trả lại món nợ ân tình 1 tỷ USD này thì có nghĩa ngân sách Quốc gia – hay 85 triệu dân Việtnam – đã mất đi 1 tỷ USD. Lại bài ca “bù lỗ” muôn thuở mà hơn 85 triệu đã nhàm tai – nhưng “bù lỗ” 1 tỷ USD thì quả là khó mà chấp nhận.
Thứ hai. Không minh bạch trong con số nợ của Vinashink.
Theo lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ thì “Vinashin đã thành công trong 2 đợt phát hành trái phiếu liên tiếp 750 triệu, rồi 600 triệu USD” (2). Như vậy, số nợ của hai đợt trái phiếu là 1 tỷ 350 triệu USD.
Ngoài số nợ qua hai lần phát hành trái phiếu 1 tỷ 350 triệu USD trên đây, “Số liệu đã biết cho thấy ngoài phần trái phiếu Chính phủ, còn có khoảng 600 triệu USD Tập đoàn này tự vay của nước ngoài, không có bảo lãnh của Chính phủ” (3).
Vậy thì, kể cả số nợ qua hai lần phát hành trái phiếu do Chính phủ bảo trợ là 1 tỷ 350 triệu USD và 600 triệu USD mà Vinashink tự đi vay thì số nợ của Vinashink là 2 tỷ USD – làm tròn!
Trong khi đó, theo buổi họp báo do ông Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng chủ trì chiều ngày 4 tháng 8 thì […Tháng 6/2010, tổng tài sản của Vinashin khoảng 104.000 tỷ đồng nhưng gánh khoản nợ 86.000 tỷ đồng….] (4).
86.000 tỷ đồng tương đương 4 tỷ USD. Câu hỏi được đặt ra ở đây là vì sao tổng số nợ của Vinashink lên đến 4 tỷ USD? Trong khi đó, tổng số nợ cả do Chính phủ bảo lãnh và do Vinashink tự đi vay chỉ có 2 tỷ USD!
Ai đã thò tay ký giấy để vay, để gây thêm món nợ 2 tỷ USD dôi ra kia và mượn vào lúc nào? Nơi nào đã cho Vinashink vay món nợ này? Và đã cho Vinashink vay với điều kiện gì? Tại sao Chính phủ mà người đại diện là ông PTT Nguyễn Sinh Hùng vốn quen ăn to nói lớn thế mà lại không trình bày rõ vì sao có sự chênh lệch 2 tỷ USD này cũng như làm rõ nguyên nhân vì đâu mà phát sinh món nợ đó? Là một Tiến sĩ kinh tế (chắc không phải bằng dỏm?), có quá khó khăn để ông PTT Nguyễn Sinh Hùng không nhận biết sự chênh lệch khủng khiếp đến như vậy hay không?
Thứ ba. Những con số ma – con số tổng giá trị hợp đồng của Vinashin bị khách hàng hủy bỏ vào năm 2008.
Theo lời ông tân Tổng Giám đốc (TGĐ) điều hành của Vinashink Trần Quang Vũ thì […..Khi Vinashin bắt đầu đóng tàu thì thị trường rất tốt, tàu tranh nhau đóng, các đơn đặt hàng rất nhiều. Đỉnh điểm có lúc chúng tôi ký được trên 5 tỷ USD đơn hàng, thậm chí 10 tỷ USD.….] (đã dẫn 2).
Còn theo buổi họp báo do ông Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng chủ trì chiều ngày 4 tháng 8 thì[…..Năm 2008 do khủng hoảng tài chính toàn cầu, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, Vinashin chịu tác động mạnh với số lượng hợp đồng bị hủy trị giá tới 8 tỷ USD. Riêng năm 2010, con số này là 700 triệu USD…] (đã dẫn 4).
Trong khi đó, theo lời của ông Phạm Thanh Bình trả lời báo chí trước khi bị bắt thì [….Khi trong tay tôi đã có cả mớ hợp đồng đóng tàu trị giá tới 17 tỷ USD mà tôi không đầu tư thì làm sao đáp ứng được nhu cầu của khách hàng….] (5).
Một ông tân TGĐ, một ông PTT, và một ông cựu TGĐ không có sự thống nhất trong con số giá trị của hợp đồng bị hủy của Vinashink. Tại sao con số ông tân TGĐ Trần Quang Vũ đưa ra là “trên 5 tỷ USD, thậm chí 10 tỷ USD”? Trong kinh doanh, không có từ “thậm chí” bao giờ! Chỉ có thể “Chúng tôi đã ký được 5 tỷ” hoặc là “Chúng tôi đã ký được 10 tỷ” chứ không có “thậm chí”!
Và con số giá trị hợp đồng 8 tỷ USD trong buổi họp báo chiều ngày 4 tháng 8 ở đâu chui ra? Tiếp đến là con số 17 tỷ USD như lời ông cựu Phạm Thanh Bình trả lời báo chí?
Dù hợp đồng đã bị hủy, nhưng thiết tưởng việc soát lại giá trị các hợp đồng không phải là khó. Việc làm một phép tính cộng đơn giản để biết được tổng giá trị các hợp đồng cũng không phải là quá khó khăn. Tại sao lãnh đạo của Vinashink và lãnh đạo của Chính phủ không biết được, không thể đưa ra con số thực của những hợp đồng bị hủy là bao nhiêu? Để rồi mỗi người đưa ra một con số khác nhau như vậy?
Có ba cách hiểu khi nhìn vào những con số 5 tỷ USD (thậm chí 10 tỷ USD), 8 tỷ USD và 17 tỷ USD mà các ông tân cựu TGĐ và ông PTT đưa ra như sau.
- Một là. Các ông này không không biết làm phép tính cộng đơn giản. Phép tính cộng mà những ai học hết lớp 5 là có thể làm được.
- Hai là. Các ông này là những người vô trách nhiệm. Cả hai ông tân cựu TGĐ và ông PTT Nguyễn Sinh Hùng là những người không có trách nhiệm với Vinashink và với Nhân Dân.
- Ba là. Các ông là những người nói láo để lừa Nhân Dân và những con số này đều không đáng tin cậy.
Dù là cách hiểu nào đi chăng nữa thì thật là đáng buồn khi mà những người có trách nhiệm quản lý một doanh nghiệp được mệnh danh là con tàu cứu cánh của nền công nghiệp đóng tàu lại thiếu trách nhiệm, quan liêu, và kém cỏi trong tính toán đến ngô nghê như vậy.
Thứ tư. Sự cố tình đánh lận con đen, sự lập lờ về con số giá trị hợp đồng bị hủy trong năm 2008.
Giá trị hợp đồng đóng tàu bị khách hàng hủy bỏ là 8 tỷ USD – tạm dùng con số của ông PTT Nguyễn Sinh Hùng. Theo lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ thì “Mỗi tàu 100.000 tấn là 100 triệu USD, tàu 350.000 tấn là hơn 200 triệu USD” (đã dẫn 2). Và cũng cứ tạm cho rằng giá trị tàu 350.000T là 250 triệu USD.
Xin tạm đặt giả thuyết là 8 tỉ USD này là hợp đồng để đóng hai loại tàu 100.000T và 350.000T và chia đồng 4 tỷ USD cho mỗi loại tàu. Vậy thì, với hợp đồng 4 tỷ USD, Vinashink đóng được 40 con tàu loại 100.000T. Còn với loại tàu 350.000T thì với giá trị hợp đồng 4 tỷ USD, Vinashink đóng được 16 tàu.
Như vậy, nếu giá trị hợp đồng 8 tỷ USD của năm 2008 không bị khách hàng hủy bỏ thì Vinashink phải đóng được 40 tàu 100.000T và 16 tàu 350.000T! Tổng cộng là 56 tàu để giao cho khách hàng. Một con số kỷ lục đáng nể và đáng mừng – nhưng là điều không tưởng đối với Vinashink – vì Vinashink không có khả năng làm chuyện này!
Qua đó, chỉ có thể hiểu rằng giá trị hợp đồng 8 tỷ USD là giá trị của hợp đồng đóng tàu kéo dài nhiều năm. Có thể có những hợp đồng mà phải đến năm 2013-2015 hoặc hơn, Vinashink mới giao tàu cho khách hàng. Năm 2008, khủng hoảng toàn cầu ảnh hưởng đến kinh tế là điều không thể chối cãi. Nhưng chưa chắc khách hàng sẽ hủy bỏ hết hợp đồng – nhất là những hợp đồng đến những năm 2013-2015, hoặc hơn mới giao tàu. Bởi lẽ, chưa chắc những hợp đồng này đã bị ảnh hưởng trực tiếp từ cơn khủng hoảng của năm 2008!
Theo lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ “Chúng tôi sẽ dùng tiền thu về từ việc sang nhượng công ty để tập trung các dự án dở dang. Có những tàu khoảng 1 tỷ USD chúng tôi chỉ còn thiếu 300-400 triệu USD là có thể hoàn thành” (đã dẫn 2). Điều này chỉ rõ khả năng Vinashink chỉ có thể hoàn thành số hợp đồng có giá trị từ 1–2 tỷ USD trong một năm! Và điều này khẳng định con số giá trị hợp đồng 8 tỷ USD là một giá trị hợp đồng kéo dài trong nhiều năm là đúng – không thể chối cãi.
Và cho dù khách hàng có hủy bỏ những hợp đồng yêu cầu giao tàu từ năm 2013-2015 thì Vinashink vẫn không bị ảnh hưởng trực tiếp hay bị thiệt hại trực tiếp trong khoảng thời gian 2008-2010. Và cho dù Vinashink có bị ảnh hưởng thì cũng không thể nào bị ảnh hưởng nặng nề để dẫn đến ngập chìm trong nợ nần đến như vậy. Bởi lẽ, Vinashink chưa tốn đồng xu cắc bạc nào để đầu tư cho những con tàu này. Không một công ty nào lại ngu ngốc đi đóng tàu những 5-7 năm trước ngày giao tàu cho khách trong hợp đồng. Nhất là những con tàu chỉ cần thời hạn 1-2 năm là có thể hoàn thành.
Còn nếu Vinashink bị thiệt hại trực tiếp vì Vinashink đã đầu tư các nhà máy đóng tàu sau khi có hợp đồng 8 tỷ USD – hay theo như lời ông cựu Phạm Thanh Bình [….Khi trong tay tôi đã có cả mớ hợp đồng đóng tàu trị giá tới 17 tỷ USD mà tôi không đầu tư thì làm sao đáp ứng được nhu cầu của khách hàng….] thì những khách hàng của Vinashink là những khách hàng ngu ngốc – những khách hàng thuộc loại trong đầu chứa đầy đất sét.
Bởi lẽ, không khách hàng nào lại đi ký hợp đồng đóng tàu có giá trị cả 8 tỷ USD khi mà đối tác chưa có cơ sở sản xuất, chưa có nhà máy để đóng hoàn thiện các con tàu mà khách hàng muốn mua. Xin thưa, các công ty vận tải đường biển nước ngoài thường là các công ty tư nhân. Chủ cả của các công ty này thường là triệu phú hay tỷ phú sau nhiều năm gây dựng sự nghiệp trong thương trường. Với họ, thương trường là chiến trường chứ không phải nơi trà dư tửu hậu để làm nơi giải sầu tiêu khiển với những hợp đồng nửa vời.
Những người chủ, lãnh đạo các công ty vận tải đường biển này là những người khôn nẻ vỏ chứ không phải dân ngu si mà có thể bị lừa bởi cái cung cách làm ăn theo lối tiểu thương “mượn đầu heo nấu cháo”. Cung cách làm ăn ma mãnh này của dân lường gạt, phường ma mãnh chỉ có thể dùng với những người nhẹ dạ cả tin ngu ngốc mà thôi. Cò đối với những tay trùm này thì đừng có nằm mơ!
Còn nếu Vinashink có thể thuyết phục khách hàng đặt mua số lượng tàu có giá trị đến 8 tỷ USDmà Vinashink chưa có cơ sở sản xuất, nhà máy để hoàn thành số hợp đồng này thì đây là một điều kỳ tài của ông Phạm Thanh Bình và bộ sậu dưới trướng.
Nhưng đây là một điều đáng buồn hơn đáng vui. Bởi vì, Vinashink đã đi lường gạt khách hàng. Do đó, một khi khách hàng biết được sự gian dối này của Vinashink thì tất cả “thượng đế” đã bỏ Vinashink ra đi không một lời từ giã là điều dễ hiểu. Trong môi trường kinh doanh lành mạnh, nhất là vào cái thời Việt Nam đã gia nhập WTO, thì những kiểu làm ăn với đầu óc tiểu thương, quen thói lường gạt chỉ có hại cho Việt Nam hơn là có lợi.
Trong buổi họp báo chiều ngày 4 tháng 8 thì vào năm nay (2010) giá trị hợp đồng bị khách hàng hủy bỏ “là 700 triệu USD” (xem chú thích 4)! Điều này khẳng định Chính phủ cho rằng số hợp đồng giá trị 8 tỷ USD bị khách hàng hủy bỏ là giá trị hợp đồng mà Vinashink phải giao tàu cho khách hàng trong năm 2008. Như vậy, Chính phủ mà người đại diện là ông PTT Nguyễn Sinh Hùng đã cố tình đưa ra con số hợp đồng bị hủy giá trị 8 tỷ USD hòng đánh lừa dư luận.
Theo phân tích ở trên – để đóng được 40 con tàu loại 100.000T và 16 con tàu loại 350.000T trong một năm – là điều “không tưởng” với Vinashink. Cùng với những dự án dở dang của Vinashink qua lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ, có thể kết luận rằng con số 8 tỷ USD mà ông PTT Nguyễn Sinh Hùng rao to lên là một con số của sự dối trá, lừa gạt đầy trơ trẽn chỉ có thể đánh lừa được những người kém trí hay bọn trẻ lên ba mà thôi.
Đằng sau âm mưu của cú lừa này là gì? Động cơ nào đã khiến ông PPT Nguyễn Sinh Hùng đích thân đi đánh cú lừa với hơn 85 triệu người Việt Nam như vậy? Và có phải ông PTT cùng cấp trên của ông ta đã nghĩ rằng hơn 85 triệu người dân Việt Nam là một bầy cừu. Do đó, ông PTT Nguyễn Sinh Hùng và cấp trên của mình muốn đưa con số nào thì đưa, muốn nói sao thì nói hay không?
Thứ năm. Sự lập lờ trong khái niệm nợ.
Theo lời ông tân TGĐ trả lời vitinfo ngày 10 tháng 7 thì […Tất nhiên, món nợ ngoài ý nghĩa là nợ thì nó còn hình thành nên tài sản của chúng tôi, chứ không phải hoàn toàn là 60 nghìn tỷ đồng. Phần hình thành các nhà máy, các cơ sở sản xuất của chúng tôi cũng chiếm khoảng 40 nghìn tỷ đồng trong đó, còn lại chỉ có 20 nghìn tỷ đồng là vốn lưu động. Cho nên, khi thị trường kích hoạt trở lại thì chúng tôi hoàn toàn có khả năng trả nợ được…] (6).
Một lối kiến giải hết sức ấu trĩ. Dù 40.000 tỷ đồng nợ này hiện là tài sản như cơ sở sản xuất, nhà máy đóng tàu của Vinashink. Nhưng số tài sản này không phải từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất mọc lên. Số tài sản này có từ tiền Vinashink đi vay mượn mà có. Do đó, một khi Vinashink chưa có khả năng trả hết nợ gốc – trả hết số tiền vay mượn để đầu tư máy móc, xây dựng những cơ sở, những tài sản này thì Vinashink vẫn phải trả tiền lời hàng tháng cũng như vẫn phải trả khoản nợ mà Vinashink đã vay! Vì vậy, 40.000 tỷ đồng này vẫn là một gánh nặng của Vinashink – Vinashink không thể thoát được nó – trừ phi Vinashink hoàn trả hết cho chủ nợ.
Là tân TGĐ của Vinashink, tại sao ông Trần Quang Vũ lại có cách kiến giải ấu trĩ như vậy? Có phải ông tân TGĐ Trần Quang Vũ muốn dùng chiêu “lập lờ” hòng đánh lừa dư luận hay không? Thiết tưởng, ông tân TGĐ Trần Quang Vũ nên có cái nhìn đúng với thực trạng của Vinashink lúc này. Bởi lẽ, con tàu Vinashink chìm ngập trong nợ nần hôm nay là hệ quả của sự gian dối của ông cựu TGĐ Phạm Thanh Bình.
Thứ sáu. Sự lạc quan tếu về khả năng phục hồi của Vinashink.
Một là. Theo lời ông Nguyễn Xuân Phúc trong buổi họp báo chiều ngày 4 tháng 8 thì “Sau khi tính toán sơ bộ, Hội đồng quản trị Vinashin dự báo các năm 2010-2012 sẽ còn lỗ nhưng năm 2013, 2014 sẽ bắt đầu có lãi và sau 2015 phát triển ổn định" (đã dẫn 4). Điều này cho thấy sự hời hợt của Chính phủ cũng như lãnh đạo chủ chốt của Vinashink. Một công ty đang ngập chìm trong nợ nần như Vinashink để rồi Chính phủ phải “chẻ làm ba” thì kế hoạch vực dậy, sự tính toán không thể nào bằng mấy chữ “sơ bộ” bao giờ!
Hai là. Theo lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ thì […Ví dụ như các nhà máy lớn của chúng tôi hoàn toàn có thể làm được 15-20 tàu cỡ 53 nghìn tấn mỗi năm. Mà chúng ta biết là tổ chức sản xuất tốt thì một con tàu chúng tôi lãi từ 3-5 triệu USD, sản xuất không ra gì thì mới lỗ. Và với sản lượng khi phục hồi trở lại, chúng tôi hoàn toàn có khả năng tạo ta lợi nhuận để trả món nợ này…](đã dẫn 6).
Hạ thủy một con tàu 53.000T để giao cho khách hàng với giá 50 triệu USD, Vinashink lời từ 3-5 triệu USD. Có nghĩa tiền lời dao động từ 6%-10% với điều kiện Vinashink giao tàu đúng hoặc trước thời hạn. Còn nếu giao tàu sau thời hạn thì lỗ.
Hiện nay, Vinashink nợ 1 tỷ USD vốn lưu động và 2 tỷ USD vốn đầu tư vào các nhà máy, cơ sở đóng tàu. Tạm cho rằng những lời ông tân TGĐ Trần Quang Vũ là đúng thì Vinashink có thể thu hồi số vốn 1 tỷ USD sau khi đầu tư thêm 300-400 triệu USD cho những dự án dở dang này (đã dẫn 2). Nhưng ít nhất phải đến cuối năm 2011 thì Vinashink mới có thể giải quyết sạch sẽ số dự án này để thu hồi 1 tỷ USD.
Như vậy, trong hai năm 2010-2011, Vinashink phải trả tiền lời cho 3 tỷ USD nợ. Nếu phân lời 2.5% thì một năm Vinashink phải trả 75 triệu USD. Còn nếu phân lời là 5% thì Vinashink phải trả 150 triệu USD. Và số tiền này chỉ là tiền lời – chưa phải tiền gốc.
Trong khi đó, khi bán một con tàu 53.000T với giá 50 triệu USD, Vinashink chỉ thu lời từ 3-5 triệu USD. Vậy thì, với phân lời 2.5% trên tổng số nợ, Vinashink phải xuất xưởng 15 con tàu 53.000T một năm. Còn nếu phân lời vốn vay là 5% thì Vinashink phải bán được 30 con tàu 53.000T một năm. Số tiền lời bán được từ những con tàu này chỉ đủ để trả tiền lãi phát sinh mà thôi chứ chưa đụng chạm tới tiền gốc 3 tỷ USD Vinashink đang nợ! Vậy thì, bao giờ Vinashink sẽ có khả năng hoàn trả hết số nợ 2-3 tỷ USD mà Vinashink đã vay???
Qua những điều bất cập trên đây, có thể khẳng định rằng kế hoạch “tái cấu trúc” Vinashink của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ là kế hoạch nửa vời của những người hoang tưởng. Hoặc giả là của những người “Thầy bói (mù) xem voi” mà thôi.
II. Một cơ chế cần khai tử
Ngoài việc nợ nần như chúa chổm của Vinashink khiến dư luận quan ngại, có những vấn đề khác khiến người dân lo ngại không kém. Đó là chuyện các doanh nghiệp Nhà nước tự đi vay vốn mà không có sự bảo trợ của Chính phủ. Và tất nhiên là vay nợ mà Chính phủ không biết thì việc dùng số tiền làm gì Chính phủ cũng không hay là điều đương nhiên.
Tính đến nay thì có hai doanh nghiệp đã “lộ mặt” chuyện này. Đó là TKV dưới thời ông cựu Kiển –và nay là Vinashink. Việt Nam hiện có bao nhiêu doanh nghiệp Nhà nước đã, đang, và sẽ đi mượn nợ kiểu này – và số nợ đã vay là bao nhiêu? Có lẽ, 85 triệu người dân Việt Nam rất muốn biết con số thực của vấn đề này. Nhưng có lẽ, người dân Việt Nam phải mua thuốc trợ tim uống trước. Đơn giản, 85 triệu dân Việt Nam hôm nay, cùng con cháu họ sẽ cật lực làm để trả nợ cho Chính phủ được gây ra bởi các tập đoàn con cưng của Chính phủ. Những tập đoàn kinh tế mà hiệu quả kinh tế thì kém cỏi nhưng theo lời các vị Bộ trưởng thì “hiệu quả chính trị, hiệu quả xã hội vẫn tốt”!
Những vấn nạn mà theo lời của ông PTT Nguyễn Sinh Hùng là “Tôi nhấn mạnh một lần nữa việc kiểm soát trước còn nhiều yếu kém . Yếu kém này là do cơ chế” (đã dẫn 3).
Xin được liệt kê ra xem có bao nhiêu vấn đề đã khiến cho Đất nước đi thụt lùi:
Tham nhũng: cơ chế
Chạy chức: cơ chế
Bằng giả: cơ chế
Công an đánh chết người: cơ chế
Xử lý môi trường yếu kém: cơ chế
Chất lượng và hiệu quả công trình kém: cơ chế
Chính phủ không quản lý được các tỉnh trong việc thuê đất rừng đầu nguồn: cơ chế.
Quan chức kiêm một lúc nhiều nhiệm vụ (như Chủ tịch tỉnh & Đại biểu QH) nên làm việc chả ra đâu vào đâu mà theo như lời ông Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ tịch QH là “Cõng em thì khỏi xay lúa”: cơ chế
Người có thực tài không được nhận vào những chức vụ quan trọng của Chính phủ: cơ chế
…
Cơ man nào là cơ chế và cơ chế nào cũng hung hiểm như bệnh nan y khiến cho Việt Nam không thành rồng thành hổ. Vậy thì, đã đến lúc khai tử cái cơ chế này – đó là cách duy nhất để Việt Nam thành Rồng nơi biển lớn– còn không thì Việt Nam mãi là Rồng nơi lỗ chân trâu mà thôi!
NT
HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2010
Bai viết của tác giả Nguyễn Ngọc Tư ( xin phép được gắn vào trang nhà )
hậm từng giọt chữ…
Nguyễn Ngọc Tư
Có lần ngồi nói chuyện văn chương với Già, ông nói bây giờ người ta đọc nhiều nhưng không đọc kỹ… Bạn thấy nhột ran, thấy trong hai chữ "người ta" đó có mình. Những lần Già nhắc tới cuốn sách nào đó bạn hớn hở kêu đọc rồi, nhưng nhắc một đoạn trong đó thì bạn không nhớ. Những lần bạn ngắc ngứ không gọi được tên một nhân vật. Những lần bạn quên tên tác giả hoặc nhớ tác giả thì quên tên sách. Những lần bạn khen cuốn sách X đó hay những hay làm sao thì bạn không diễn tả được. Giống như lướt đi trên những mối tình hờ hững, đã từng yêu nhưng có lẽ thiếu đậm sâu, đến nỗi chả nhớ nốt ruồi cô ấy nằm ở đâu.
Già thì khác. Tám mươi sáu tuổi Già vẫn giữ cách đọc sách kỳ lạ. Mỗi chữ trong sách với Già là thưởng hớp trà, ngụm rượu. Nên còn gì sướng bằng trà rượu ngon. Già xướng một câu, chắc lưỡi hít hà một cái, gật gù khen quá đã. Có những đoạn văn bạn đã từng lướt qua trên trang sách giờ qua ngữ điệu duyên dáng của Già bạn thấy ngỡ ngàng, tươi mới bao nhiêu. Và bạn thấy lạ lùng bao nhiêu khi ngó Già đọc lại một câu văn tâm đắc, dù Già dùng hai chữ "thấy ghê", sau khi rướn cái cổ gầy gò nhăn nhúm nuốt nước bọt.
Già nói thấy ghê, nhưng không phải chê, mà nghe trong đó sự ngưỡng mộ, nể nang, thán phục. Già hay thảng thốt "thấy ghê" sau mỗi câu văn hay ho mà Già đã đồng cảm đến mức thuộc nằm lòng. Mà Già thì thuộc nhiều câu dài lắm, kinh điển lắm, phức tạp lắm… đến Sông Đông êm đềm chữ như rừng vậy nhưng Già vẫn có thể tỉnh bơ đọc một đoạn nào đó, bằng trí nhớ mẫn tiệp, bằng tình yêu văn chương, bằng sự trân trọng sách, bằng cách đọc thật chậm, nâng niu từng câu chữ.
Chống chế rằng cái thời Già sống sách hiếm hoi, nên người ta quý sách, người yêu sách coi sách như miếng ăn, hơi thở. Nhưng cái thời cầm sách đọc mà sợ hết qua rồi, giờ sách đầy rẫy, đẹp, sang… không đọc nhanh thì tiếc. Và đọc sách như một công việc, không phải thú chơi. Trong bạn bè của bạn, có nhiều người đọc sách để điểm tin trên báo, đọc sách để khoe (rằng đã đọc), đọc sách để học viết, đọc để… kể lại. Nên ai cũng mau mau cho đến trang cuối cùng. Lâu lắm rồi bạn không còn nhấm nháp từng trang sách, như bụi lục bình trôi nhẩn nha trên sông, lúc tấp bờ này khi dạt vào bụi nọ. Bạn cũng đam mê, cũng nghiến ngấu mà như là nghiến ngấu bánh mì kẹp thịt, tô phở… không phải ngồi nhẩn nha vừa thổi vừa gỡ lớp vỏ cháy khét của củ khoai lùi.
Bạn cảm thấy bệnh sống nhanh sống gấp dường như đã di căn đến thú nhàn nhã cuối cùng của mình, xộc vào thành lũy cuối cùng. Và chỉ khi gặp Già, ngồi giữa căn nhà lấp ló trong vườn dừa của Già nghe Già đọc một đoạn văn của Hemingway, Lỗ Tấn, Lev Tolstoi… thì mới cảm thấy thật rõ ràng. Chỗ Già gì cũng chậm, nước trà rót chậm, điếu thuốc cháy chậm, tiếng nước mương vườn chậm rãi chảy, và giọng Già nhẩn nha mà nghiêm cẩn, "Hằng năm, tôi đợi mùa thu tới, để buồn…" (*).
Văn chương va vào Già thì sống dẳng dai. Những vẻ đẹp của trang sách vẫn tồn tại ngay khi không còn tồn tại trên những tờ giấy úa. Ngó bộ chắc phải dạy sắp nhỏ lại, nên có bữa Già khẽ khàng lôi ra một tờ báo cũ in một truyện cũng cũ của Già, biểu bạn đọc. Mà không được đọc thầm đâu, phải thành tiếng thành câu. Chữ nào bạn đọc sai Già nhắc chừng chừng trong lúc khói thuốc bảng lảng vờn trên mặt. Bạn quen đọc thầm, giờ giọng cứ vấp dúi dụi trên trang báo dày những chữ, đến truyện ngắn thứ hai đã cảm thấy mệt đứt hơi, muốn nhanh cũng không nhanh được.
Kết quả của buổi chiều làm bài tập đọc đó là bạn nhớ dẳng dai một câu trong cái truyện ngắn xa xưa của Già, "Viết thơ cho nhau và tìm thăm nhau là việc làm của những kẻ yêu nhau quá ít còn đang sợ hãi chuyện quên nhau. Tình yêu của tôi không hời hợt thế"
Vậy nên, thưa Già, nếu lâu lắm thưa vắng tin nhau, cũng không có nghĩa bạn nhỏ này đã quên Già rồi…
(*) Ernest Hemingway
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)